Phong Trào Cách Mạng Dân Chủ Việt Nam

ĐẠI VIỆT THỜI BÁO

TIẾP CHUYỂN TIN TỨC VỀ QUÊ HƯƠNG
MARCH 2011
S
M
T
W
T
F
S
27
28
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
1
2
                                 TRANG NHÀ    BẢO TÀNG   I   THƯ VIỆN   I   ĐẶC SAN   I   ÂM NHẠC   I   TRUYỀN THANH   I   PRIMVNATUBE   I   VNABLOG
Monday, March 14, 2011
 
YÊU NƯỚC?
DÂN VIỆT PHẢI PHẾ BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CSVN !
QUỐC NỘI NỔI DẬY TỰ CỨU HAY NẰM YÊN TỰ SÁT
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 13.03.2011
Web: http://VietTUDAN.net
Những tháng cuối năm 2010, nhất là sau vỡ nợ của Vinashin, t́nh trạng Kinh tế Việt Nam cho thấy sự tụt dốc rơ rệt. Trong khung cảnh tụt dốc Kinh tế ấy, với lạm phát lên cao, vật gía tăng phi mă, đồng tiền phá giá, khả năng tín dụng bị quốc tế đánh thụt điểm, dự trữ ngoại hối chỉ c̣n mức lượng không đủ cho nhập cảng hai tháng, chúng tôi quyết định viết loạt bài Chủ đềTRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH.
Muốn DỨT BỎ được Cơ chế hiện hành, th́ quần chúng phải NỔI DẬY làm đột biến, nghĩa là làm Cách Mạng. Việc NỔI DẬY này là trách nhiệm của QUỐC NỘI chứ không phải là việc nhập cảng vào từ HẢI NGOẠI
Minh định một số quan niệm
Chúng tôi thấy cần minh định một số quan niệm chủ chốt trong loạt bài Chủ đề này để độc giả dễ hiểu hoặc tối thiểu không hiểu lầm chúng tôi khi viết về cuộc NỔI DẬY ở Việt Nam.
Cuộc NỔI DẬY ở Việt Nam là một việc CẦN THIẾT phải làm từ lâu rồi nếu chúng ta muốn đất nước phát triển. Đă từ hơn 4 năm nay, chúng tôi đă viết về sự CẦN THIẾT này chứ không phải chỉ bây giờ mới viết. Khi quyết định viết Chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi đă viết trước khi có cuộc Cách Mạng Hoa Nhài tại Tunisie và những cuộc Nổi Dậy tại Bắc Phi và Trung Đông. Không phải thấy người ta làm Cách Mạng Hoa Nhài, rồi ḿnh mới sốn sang làm Cách Mạng Hoa Sen, Hoa Súng… cho Việt Nam.
Ngày nay, một số Vị mới đặt ra vấn đề xem cuộc NỔI DẬY ở Việt Nam đă CHÍN MÙI hay chưa. Tôi e ngại rằng cứ ngồi xét khía cạnh CHÍN MÙI, mà không hành động ǵ cả, th́ cuộc NỔI DẬY ở Việt Nam sẽ phải RỮA MÙI và tàn lụi không hợp thời cơ quốc tế nữa. Thực vậy, người ta thường nói rằng rất ít những bậc Trí thức Khoa bảng trở thành Triệu phú hay Tỉ phú. Lư do là những bậc Trí thức Khoa bảng ngồi đắn đo nhiều quá, đọc từ thời Aristote, Platon… t́m hiểu về Tiền bạc để đến khi bắt đầu làm kiếm tiền, th́ người khác hớt hết “Affaires” của ḿnh rồi.
TRÁCH NHIỆM nổi dậy là QUỐC NỘI. Thực vậy, CSVN đè đầu bóp cổ cướp bóc là đè đầu trên những người ở Quốc nội. Người Việt Hải ngoại, cho dù có mang ḷng yêu nước đi nữa, th́ cũng không bị đau đơn bằng những người ở Quốc nội. Chúng tôi mong QUỐC NỘI thương lấy chính thân phận ḿnh và tự cứu ḿnh, chứ đừng quá tin ở ḷng thương đến cứu từ phía người Việt tại nước ngoài hay từ những Chính quyền ngoại quốc. V́ vậy, chúng tôi xin nói “QUỐC NỘI NỔI DẬY TỰ CỨU HAY NẰM YÊN TỰ SÁT”.
Năm 2001, khi nhập cuộc đấu tranh cho Linh mục NGUYỄN VĂN LƯ và Tự do Tôn giáo, chúng tôi viết thúc đẩy việc Giáo dân Công Giáo nổi dậy làm mạnh, th́ một Linh mục từ Roma mắng xéo rằng “Đừng xúi trẻ ăn cứt gà!”. Chúng tôi trả lời rất rơ rệt rằng chúng tôi không xúi ai ăn cứt gà cả mà chỉ thấy CSVN gùm cổ người ta, dí vào băi cứt gà và bắt ăn, nên chúng tôi hô hào phải cưỡng lại đừng ăn. C̣n nếu nhục nhă tuân lời CSVN th́ cứ việc ăn, chứ không ai xúi ǵ cả.
Ngày nay, qua bài viết mới đây, Ông NGUYỄN MINH CẦN biểu lộ sự tức bực rằng người Việt Hải ngoại kêu gọi Quốc Nội NỔI DẬY như đẩy giới trẻ vào chỗ chết, giống như h́nh ảnh xúi trẻ ăn cứt gà. Chúng tôi nghĩ người Việt Hải ngoại muốn nhắc nhở cho Quốc nội rằng hăy NỔI DẬY đứng thẳng người lên TỰ CỨU M̀NH, c̣n nếu cứ gục đầu nhục nhă dưới gót giầy CSVN, th́ dần dần nhục quá mà CẮN LƯỠI TỰ TỬ.

Lửa cách mạng không ngừng lan rộng ...
Nguyễn Hoài Vân
Theo tin đọc được ngày hôm nay, thứ bảy 19 tháng 2, th́ :
Tại Yemen cuộc nổi dậy ngày càng thêm mănh liệt trước sự đàn áp không kém mạnh mẽ của chính quyền. Sáu người biểu t́nh đă bị giết trong ngày thứ sáu 18 tháng 2. Tân Hoa Xă cho biết ít nhất là 50 người biểu t́nh đă thiệt mạng từ lúc cuộc đấu tranh khởi phát. Điều quan trọng là cuộc nổi dậy đang chuyển sang khuynh hướng bạo động.
Tại Lybia, « Ngày Thịnh Nộ » , cũng vào thứ sáu 18, đă rất mạnh bạo. Chính quyền Lybia đă cắt mạng Internet từ thứ sáu, và chỉ phục hồi lại một cách hạn chế trong ngày hôm nay. Các trang Face Book và Al Jazeera vẫn bị chặn. Chính phủ Ai Cập cũng đă làm như thế vào lúc khởi đầu của cuộc nổi dậy. Cũng xin ghi nhận là một nguồn tin từ Thụy Sĩ cho biết chính quyền Lybia đă chủ động tổ chức biểu t́nh để lật mặt nạ những người chống đối ... Một điều rất khó kiểm chứng.
Tại Bahrein, cũng ngày thứ sáu, lực lượng đàn áp đă bắn vào đoàn biểu t́nh, làm bị thương nhiều người. Hôm trước, thứ năm, chính quyền cũng đă cho nổ súng để giải tán những người chống đối tụ tập từ thứ hai 14, làm “mất tích” không dưới 60 người. Quân đội đă tái xác nhận vai tṛ thành tŕ của chế độ, khiến cuộc nổi dậy sẽ rất khó khăn (xem : Tunisia rồi Ai Cập: những yếu tố quyết định sự thành công của một cuộc cách mạng). Dư luận và báo chí, như tờ Independant (Luân Đôn) đẵ lên tiếng chỉ trích Hoa Kỳ và Anh Quốc tiếp tục bán khí giới cho Bahrein và Lybia, yểm trợ cho những quân đội đàn áp giết hại người dân. Kết quả : Paris và Luân Đôn quyết định ngừng xuất cảng vơ khí sang hai nước này ...
 
Một điểm nóng khác là Iran : hôm qua, những người thân chính quyền đă biểu t́nh rầm rộ đ̣i treo cổ hai lănh tụ đối lập ! Trước đó, vào ngày thứ hai, nhiều ngàn người đă bất chấp lệnh cấm, tham gia một cuộc biểu t́nh chống chính quyền tại Teheran. Hai người đă thiệt mạng, nhiều người bị thương và bị bắt giữ. Một giáo sĩ cao cấp tuyên bố trên ṭa giảng là “tính mạng của hai nhà lănh tụ đối lập đă kết thúc” ...
Cũng ngày thứ sáu, ở Jordanie, tám người biểu t́nh đă bị thương trước sự đàn áp của lực lượng vũ trang bảo vệ vương quyền tại Amman.
Tại Djibouti, những cuộc biểu t́nh đă được tổ chức từ thứ tư vừa qua, và một lănh tụ đấu tranh cho nhân quyền đă bị bắt giữ.
Báo China Morning post cũng cho biết những hành động đấu tranh đă khởi phát tại Pakistan.
Tại Algerie, ngày thứ bảy tuần trước, 3000 người đă biểu t́nh trước sự đàn áp của 30 ngàn quân nhân và cảnh sát ... Những người tổ chức kêu gọi một cuộc biểu t́nh khác, ngày hôm nay, 19 tháng 2. Cần biết là t́nh trạng “khẩn trương" vẫn hiệu lực tại nước này, từ năm ... 1992 !
Tại Maroc, nguy cơ nổi dậy khiến chính quyền vội vă lên án những âm mưu giật dây từ nước ngoài, để tổ chức sự đàn áp. Phe đối lập đă kêu gọi triệu tập một “Ngày Nhân Phẩm” vào ngày mai, chủ nhật 20 tháng hai. Lănh tụ của họ là một chuyên gia tin học ...
Tin học ! Sau cuộc « cách mạng tin học » trên lănh vực khoa học kỹ thuật, đảo lộn hẳn đời sống của mỗi người chúng ta, làm sao có thể ngạc nhiên trước sự kiện cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ấy được nối dài trên lănh vực chính trị ? Thật vậy, những người chống đối có thể họp hành, thảo luận, trao đổi tin tức và tổ chức những hành động đấu tranh trong một không gian ảo, với thật nhiều người tham dự, mà không sợ bị cảnh sát ập tới bắt bớ, đàn áp. Thông tin đă thực sự trở thành một lợi khí đấu tranh vô cùng quan trọng.
Tuy nhiên, một cuộc cách mạng không chỉ giới hạn trong những hành động nổi dậy.
Camus viết trong « L’Homme Révolté », rằng những người nô lệ, có khi không biết ḿnh là nô lệ, chỉ nổi dậy để tiếp tục làm nô lệ. Họ sẽ bán ḿnh cho người chủ trả giá cao hơn. Một số họ sẽ chiếm được quyền hành và sẽ cư xử như những chủ nhân cũ mà họ đă lật đổ, v́ động cơ của họ là làm người chủ mới, thay thế người chủ cũ. Lúc viết lên những điều này, Camus nghĩ đến cuộc cách mạng Bolchevik. Những người làm cuộc cách mạng ấy là nô lệ của một chủ thuyết. Dù thành hay bại, họ vẫn là nô lệ. Cuộc cách mạng tại Iran năm 1979 cũng thế, chủ thuyết ở đây là một thần quyền phi nhân.
Các cuộc nổi dậy tại Bắc Phi và Trung Đông có vẻ dựa trên những ưu tư thực tế, hơn là những giáo điều, chủ thuyết. Đó là một điểm tích cực quan trọng. Tuy nhiên, vẫn cần lưu ư là các đ̣i hỏi cụ thể của những người đấu tranh, đại khái quay quanh một đời sống kinh tế khả quan hơn, sẽ không dễ đạt được, v́ bối cảnh khủng hoảng chung trên toàn hệ thống Tư Bản Chủ Nghĩa, dù cho người cầm quyền là ai đi chăng nữa.
Điều này khiến chúng ta suy nghĩ về một khái niệm : không c̣n h́nh dung được một cuộc cách mạng phá đổ tất cả và giải quyết mọi vấn đề nữa, mà chỉ có những bước tiến cánh mạng, dân chủ, và ôn ḥa (nếu có thể), đưa người dân đến gần một sự quản lư xă hội hợp lư hơn, hữu hiệu hơn.
Ghi thêm chủ nhật 20/2/2011 :
- Cuộc biểu t́nh dự trù hôm thứ bảy tại Algerie đă bị dàn áp dữ dội bởi 40 ngàn quân nhân và cảnh sát
- Cuộc biểu t́nh được dự trù hôm nay, chủ nhật, tại Maroc đă quy tụ 3 đến 5000 người, không bị đàn áp
- Tại Lybia, 173 người bị giết trong cuộc biểu t́nh hôm nay
- Barhein và Yemen cũng có biểu t́nh ngày hôm nay
- Tunisia lại biểu t́nh đ̣i lật đổ chính quyền chuyển tiếp ... Một linh mục người Ba Lan bị người Hồi giáo quá khích giết và một nhà chứa bị tấn công.
 
Nguyễn Hoài Vân
19 tháng 2 năm 2011

Tự thiêu Đà Nẵng – Mập mờ bưng bít thông tin
Posted on Tháng Hai 20, 2011 by truongthondlb1
 

Dân Làm Báo – Vào ngày 18 tháng 2 Dân Làm Báo loan tin vụ việc kỹ sư Phạm Thành Sơn đă tự thiêu ngay trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng để phản đối chính quyền lấy đất và đền bù không thỏa đáng. Bài tường thuật đă đính kèm video clip cũng như h́nh ảnh thương tâm đang xảy ra. Trong khi đó th́ báo chí lề phải của đảng và nhà nước đă đi tin như thế nào?
 
http://danlambaovn.files.wordpress.com/2011/02/tuthieu-bando-dlb.jpg?w=640&h=383

UBND TP Đà Nẵng nằm trên đường Bạch Đằng, đây là đường 1 chiều. Theo nguyên tắc, xe hai bánh khi lưu thông thường phải đi sát lề bên phải. H́nh ảnh gửi đi cho thấy, nạn nhân và xe bốc cháy nằm bên trái theo hướng lưu thông, sát lề phía trụ sở UBND, cho nên không thể có chuyện “đang đi trên đường th́ tự nhiên xe bốc cháy dữ dội ” như bản tin của TTXVN đưa tin:

Chiếc xe của anh Sơn đang bốc cháy ngay trên sát VỈA HÈ. Anh Sơn không có “điều khiển đang đi TRÊN ĐƯỜNG”. Đây là điểm quan trọng. Nếu một người đang lái xe máy, mà xe “tự nhiên bốc cháy” th́ xác xuất sẽ hốt hoảng, cả người lẫn xe chúi ngă xuống ḷng đường và cháy. Khó mà có chuyện anh Sơn dừng xe từ lề bên phải tấp qua lề bên trái trước cửa trụ sở UBND T/p để rồi xe th́ cháy rụi ở lề đường và anh th́ bị cháy trên vỉa hè. Câu tường thuật quan trọng nhất của bài báo “Anh Sơn điều khiển đang đi trên đường th́ tự nhiên xe bốc cháy dữ dội khiến anh Sơn chết tại chỗ” và “xác nạn nhân nằm cạnh xe máy” vừa không đúng sự thật, vừa ngô nghê.
Dân Làm Báo mời các bạn xem lại toàn bộ quang cảnh hiện trường:
 
 
http://danlambaovn.files.wordpress.com/2011/02/180662_1423618529721_1810482777_771981_1156209_n.jpg?w=640&h=451

Điểm cần ghi nhận là bài báo hoàn toàn không nhắc ǵ đến nơi xảy ra vụ việc là ngay trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng.
*
Trong khi đó, Báo Lao Động đăng tải bài báo cùng nhan đề và nội dung:
Điểm “khác biệt” duy nhất từ bản tin này là cái h́nh ảnh mà nhà báo ta dùng là “Ảnh chỉ mang tính minh họa” trong khi h́nh ảnh thật đang được loan tải khắp nơi nơi:
Trong khi đó th́ trên trang Thanh Niên Online với bài Chưa xác định nguyên nhân vụ cháy người và xe máy:
Do đă có sự chỉ đạo từ trên xuống, báo chí chỉ có thể trông chờ ông đại tá cho biết sự t́nh điều tra. Vậy th́ công an nói sao nhà báo sẽ đăng tin như vậy. Nhưng mà nghe ông đại tá Lợi nói: “đám cháy rất dữ dội, một số người dân tri hô anh Sơn nhảy xuống sông“. Sông đây là sông Hàn, nằm bên kia đường một chiều đối diện với trụ sở UBND TP Đà Nẵng. (xem h́nh bản đồ ở đầu bài viết). Nh́n h́nh ảnh lẫn cả video clip người dân dừng xe lại xem, bên kia lửa cháy, con đường thênh thang như thế, anh Sơn làm sao nhảy xuống sông? Mới vào trận ông Sơn đă nói láo. Điều nói láo của ông cũng mâu thuẫn luôn với điều tường thuật láo của TTXVN từ phần trên: “Anh Sơn điều khiển đang đi trên đường th́ tự nhiên xe bốc cháy dữ dội khiến anh Sơn chết tại chỗ”
Bài này không có h́nh ảnh cũng chẳng có… “minh họa đính kèm” và cũng hoàn toàn không nhắc ǵ đến hiện trường nơi xảy ra vụ việc là ngay trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng.
Cũng xin nhắc lại, nhân vật Nguyễn Văn Lợi – đại tá – chánh văn pḥng CA TP Đà Nẵng, người “đoán ṃ theo chỉ đạo để tuyên bố khả năng vụ cháy là do sự cố”- cũng chính là nhân vật nói dối không biết ngượng mồm trong vụ đàn áp các giáo dân Cồn Dầu hồi năm 2010.
*
Báo Đất Việt th́ thông tin “chắc nịch” hơn bằng cái tít đầy ấn tượng – Xe máy nổ b́nh xăng, chủ xe chết tại chỗ:
Vậy là “khả năng vụ cháy là do sự cố” đă được Đất Việt xác nhận bằng nhan đề “Xe máy nổ b́nh xăng, chủ xe chết tại chỗ”. Và chết tại chỗ chứ chẳng có chuyện nhảy xuống sông Hàn. Nhưng ông đại tá Lợi th́ lại nói thêm điều không đúng sự thật: “sự việc diễn ra vào thời điểm đường rất vắng người, nên có rất ít người chứng kiến sự việc trên” . H́nh ảnh, video mà Dân Làm Báo đă loan tải chứng minh hùng hồn rằng ông Lợi nói láo.Việc nói láo này nhằm mục đích bịt miệng nhân chứng, chỉ có vài người thấy và đó sẽ là những nhân chứng của công an. C̣n bất kỳ ai khác sẽ là ngụy tạo, giả dối, không có mặt ở hiện trường.
Bài báo này đề cập “mém mém” đến địa điểm nhạy cảm của hiện trường “các lực lượng chức năng xác định chiếc xe cháy ngay cạnh cột điện chiếu sáng số 83 sát mép đường (đoạn trước UBND thành phố Đà Nẵng)”. T́nh trạng của anh Sơn là: “xác nạn nhân nằm cạnh xe máy”.
*
Tại đại bản doanh thông tin của Công An Thành phố Đà Nẵng của Đại tá Nguyễn Viết Lợi, tin được đăng ngắn ngủi Về vụ tai nạn trên đường Bạch Đằng:
 
Công an Đà Nẵng cũng hoàn toàn không nhắc ǵ đến hiện trường nơi xảy ra vụ việc là ngay trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng. Nhưng trong bản tin này lại cho thấy từ chuyện anh Sơn chết liền tại chỗ, xác nạn nhân nằm cạnh xe máy, chuyển sang ông đại tá chánh văn pḥng công an láo rằng “một số người dân tri hô anh Sơn nhảy xuống sông“, bây giờ th́ là “TỰ GÂY TAI NẠN giao thông làm xe máy bốc cháy, nạn nhân bỏng nặng. Sau khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu, nạn nhân đă tử vong“.
Bỏ qua sự khác biệt giữa nguồn tin chết ngay tại chỗ và chết tại bệnh viện. Công an Đà Nẵng đă gián tiếp xác nhận sự kiện anh Sơn đă tự thiêu qua dữ kiện “TỰ GÂY TAI NẠN giao thông làm xe máy bốc cháy” này.
Cả guồng máy công an, mật vụ, truyền thông của đảng đang ra sức bưng bít, bóp méo thông tin nhằm ngăn chận ngọn lửa Phạm Thành Sơn!
Dân Làm Báo

Đại sứ Palestine tại Việt Nam:
Dân chủ hóa: Xu hướng khó cưỡng

VNN- “Dân chủ hóa đ̣i hỏi sự phù hợp với những đặc trưng của thế giới Ảrập nhưng đó là xu hướng khó cưỡng lại được của thời đại”, Đại sứ Palestine tại Việt Nam Saadi Salama nhận định
Phẫn nộ v́ tham nhũng
Làn sóng biểu t́nh chống chính phủ tại các nước Ảrập đang lan rộng sang nhiều nước trong khu vực, theo ông đâu là những lư do chính gây nên điều này?
Tôi tin rằng có những lư do chủ quan và khách quan. Lư do khách quan trước tiên là t́nh h́nh ḥa b́nh tại khu vực Trung Đông từ lâu vẫn chưa được thiết lập một cách bền vững và lâu dài.
Vấn đề thứ hai là khủng hoảng kinh tế đă ảnh hưởng rất lớn đến các nước Ảrập. T́nh h́nh kinh tế khá tồi tệ, sự phát triển kinh tế hiện nay không giúp giải quyết vấn đề thất nghiệp của thế hệ trẻ. Trong khi nếu chúng ta nh́n vào thế giới Ảrập th́ sẽ thấy số lượng người trẻ khá đông.


Đại sứ Palestine tại Việt Nam Saadi Salam: Những lănh đạo Ảrập nắm quyền trong một thời gian dài, tạo điều kiện cho con cái và họ hàng có một vai tṛ trong hệ thống chính trị... gây nhiều bất b́nh. Ảnh: CN
Vấn đề thứ ba là các hệ thống chính trị như ở Ai Cập đă tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp tham gia vào hệ thống chính trị. Những nhà doanh nghiệp này chỉ lo cho lợi ích cá nhân của họ, lợi dụng chính quyền, lợi dụng vị trí trong bộ máy nhà nước để tham nhũng.
Như vậy ở đây có vấn đề xung đột lợi ích giữa kinh tế và chính trị, ông hăy giải thích cụ thể thêm?
Việc những lănh đạo Ảrập nắm quyền trong một thời gian dài, cùng với đó họ c̣n tạo điều kiện cho con cái và họ hàng của ḿnh có một vai tṛ trong hệ thống chính trị, tiếp nối họ làm lănh đạo cầm quyền gây nhiều bất b́nh.
Điều này cũng phản ánh một cách rơ rệt là các đảng cầm quyền đă có những vấn đề mang tính chất suy thoái, tham nhũng, tất nhiên gây phẫn nộ trong giới thanh niên và người dân.
Chúng ta có thể thấy rơ đảng cầm quyền Tunisia đă hoàn toàn bị gạt ra khỏi hệ thống chính trị ngay lập tức sau khi Tổng thống chạy khỏi đất nước. Hay ngay cả như ông Mubarak của Ai Cập, sau khi giao quyền cho quân đội th́ đảng Dân tộc dân chủ cũng đang bị chỉ trích rất nhiều.
"Rất phức tạp"
Mỹ lúc đầu có lập trường khá dè dặt với cuộc cách mạng này, về sau ủng hộ nguyện vọng của người biểu t́nh. Ông có thể phân tích sâu hơn mối quan hệ giữa Mubarak và Mỹ trước đó và tại sao Mỹ lại có những động thái như vừa rồi?
Từ năm 1973, quan hệ Mỹ và Ai Cập đă phát triển đáng kể, giúp cho Ai Cập có được sự viện trợ lớn của Mỹ. Tuy nhiên, trong thời gian ủng hộ chế độ Mubarak, Mỹ cũng đă có những quan hệ với các nhóm, phe phái chính trị khác tại Ai Cập, trong đó có cả phong trào Anh em Hồi giáo.
Khi cuộc biều t́nh mới nổ ra, Mỹ đă có lập trường ủng hộ sự đ̣i hỏi của các phe phái chính trị đó, đồng thời đề nghị chuyển giao quyền lực một cách mềm dẻo nhưng cần cho Ai Cập thời gian để chuyển từ chế độ Mubarak sang chế độ mới.
Nhưng sau đó Mỹ đă thay đổi và có lập trường là có thể thực hiện ngay, không cần phải chờ lâu. Điều này cho chúng ta thấy Mỹ cũng đă có những quan điểm chính trị không nhất quán trong ban lănh đạo của Nhà Trắng.
Tôi nghĩ rằng bài phát biểu của Obama sau khi ông Mubarak đă giao quyền cho quân đội là một bài phát biểu rất hay và hy vọng bài phát biểu đó không chỉ áp dụng riêng cho Ai Cập mà c̣n áp dụng cho các dân tộc khác trên thế giới, đặc biệt là Palestine, dân tộc duy nhất đến bây giờ vẫn sống dưới sự chiếm đóng của quốc gia khác.
C̣n thái độ của Iran th́ sao, có vẻ như họ ủng hộ người dân Ai Cập thực hiện việc lật đổ chế độ của Tổng thống Mubarak?
Iran và Ai Cập có quan hệ không tốt từ hơn 30 năm nay rồi. V́ thế Iran thấy phong trào chống lại chế độ ở Ai Cập có thể có lợi cho Iran. Nhưng có thể việc đánh giá t́nh h́nh như vậy không được kỹ càng v́ nhân dân Ai Cập có một đặc trưng rất rơ nét là họ không chấp nhận việc để nước họ tuân theo một nước nào khác trong khu vực.
Chính v́ thế tôi nghĩ rằng, Iran hiện nay đang ủng hộ phong trào nổi dậy, nhưng ta cũng thấy tại Iran, chính phủ lại đang ra sức khống chế phe đối lập, khống chế những cuộc biểu t́nh. Đó là điều mâu thuẫn cho thấy t́nh h́nh Trung Đông hiện nay rất phức tạp.
Vậy Israel th́ sao, theo ông, họ được hay mất, ủng hộ hay phản đối những thay đổi ở Ai Cập?
Tôi nghĩ khó đánh giá theo kiểu được - mất như vậy. Nếu nh́n quan hệ đối ngoại của Ai Cập với thế giới bên ngoài, tôi nghĩ sẽ không có nhiều thay đổi.
Các nước ở Trung Đông, đặc biệt là Ai Cập, có nền văn hóa lịch sử lâu dài. Ai Cập có 7000 năm lịch sử, dù cho chính phủ nào lên th́ vẫn có những nét phẩm chất riêng biệt của Ai Cập.
Israel vẫn phải hợp tác với thế giới để giải quyết cuộc xung đột với Palestine th́ Trung Đông mới có nền an ninh về lâu dài.
Có ḥa b́nh mới có an ninh
Vậy những cuộc cách mạng vừa rồi ảnh hưởng ra sao đối với lộ tŕnh ḥa b́nh Trung Đông, theo ông?
Tôi nghĩ là sẽ có ảnh hưởng tích cực v́ nó thúc đẩy các nước Ảrập có lập trường nhất quán trong vấn đề tạo sức ép đối với Mỹ và các nước nhằm thúc đẩy các nước t́m giải pháp cho vấn đề ḥa b́nh Trung Đông. Các chế độ chính trị mới đó sẽ mang tính chất mới và phải đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân Ảrập.
Để chế độ chính trị của các nước Ảrập ổn định, cần một thời gian không ngắn. Thời gian này sự chú ư đến vấn đề Palestine sẽ ít hơn nhưng chắc chắn nó sẽ không kéo dài quá lâu.
Việc dân chủ hóa tại các nước Ảrập cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các xu hướng chính trị mới có một vai tṛ lớn hơn. Sẽ ngăn chặn các xu hướng chính trị cực hữu, cực đoan trong thế giới Ảrập v́ cực hữu chỉ nảy sinh trong điều kiện xă hội không có nhiều dân chủ.
Vậy để khu vực các nước Ảrập đi vào ổn định, theo đánh giá của cá nhân ông, cần thực hiện những biện pháp nào?
Vấn đề thứ nhất, các nước Ảrập phải giúp đỡ lẫn nhau để đưa nền kinh tế xă hội phát triển, và đồng thời đưa mức sống của người Ảrập ngày càng được nâng lên.
Thứ hai là việc dân chủ hóa, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ có vai tṛ hơn trong chế độ chính trị của họ. Dân chủ hóa đ̣i hỏi sự phù hợp với những đặc trưng của thế giới Ảrập nhưng đó là xu hướng khó cưỡng lại được của thời đại.
Thứ ba, để đưa t́nh h́nh Trung Đông đi đến ổn định, phải nhanh chóng t́m một giải pháp ḥa b́nh cho cuộc xung đột Palestine - Israel. Chỉ có ḥa b́nh mới mang lại an ninh cho các quốc gia trong khu vực. Có ḥa b́nh mới có an ninh chứ không phải có an ninh mới có ḥa b́nh!
Khánh Duy - Cao Nhật
Nguồn: VietNamnet.

Cuộc nổi dậy của nhân dân Ai cập
là một cảnh báo nghiêm khắc chế độ Cộng sản VN,
nhưng cũng lưu ư người dân chủ chúng ta phải làm ǵ!

* Một anh hùng dân tộc đă trở thành thủ lănh độc tài, một đảng cách mạng đă biến thành phản cách mạng chỉ tập hợp những phần tử phản động và xôi thịt!
* Phải biết chuẩn bị kịp thời để hợp sức nhân dân loại bỏ độc tài và kiến tạo dân chủ, phú cường và văn minh!
Âu Dương Thệ
Cuộc “Cách mạng Hoa nhài” đă diễn ra ở Tunesien vào cuối tháng 12.2011 và đă đẩy được nhà độc tài Tổng thống Ben Ali ra khỏi nước sau trên hai thập niên cai trị độc tài và gia đ́nh trị, coi Tunesien như tài sản riêng của gia đ́nh. Cuộc “Cách mạng Hoa nhài” cũng đang bung ra ở nhiều nước của thế giới Ả rập. Cao điểm hiện nay là Ai cập. Trong hai tuần qua hàng triệu nhân dân Ai cập đă xuống đường đ̣i Tổng thống Husni Mubarak phải từ chức. Cuộc “Cách mạng Hoa nhài” ở Ai cập không chỉ làm lung lay chế độ Mubarak, mà c̣n làm rung động cả thế giới Ả rập, lo lắng cho Do thái, bàng hoàng cho cả Mĩ lẫn Âu châu và tạo xúc động sâu sắc trong giới trẻ và những người tiến bộ trên thế giới.
Chuyện ǵ đang diễn ra? Tương lai của Mubarak? Tương lai của Ai cập? VN giống Ai cập ở những điểm nào? Những người dân chủ VN cần rút ra bài học ǵ?
Từ anh hùng dân tộc trở thành tên độc tài gia đ́nh trị và đă tự phá nát gia tài
Suốt 30 năm Mubarak đă cai trị Ai cập, nay đă 83 tuổi và từng dự tính để cho con trai nối ngôi. Khi c̣n trẻ Mubarak là một ngôi sao sáng cả trong quân đội lẫn chính trị ở Ai cập. Ông trở thành sĩ quan phi công của quân lực Ai cập ngay từ đầu thập niên 50. Từ cuối thập niên 60 trở thành Tư lệnh không quân. Trong chiến tranh Jom-Kippur 1973 do Tổng thống Anwar as-Sadat làm tổng tư lệnh, Mubarak đă trở thành người hùng của Ai cập và thế giới Ả rập v́ đă có công chiếm lại Sinai đă bị Do thái cướp trong chiến tranh 6 ngày (1967). Không chỉ đánh đuổi Do thái khỏi Sinai, chiến thắng Jom-Kippur c̣n rửa nhục và phục hồi danh dự cả cho Ai cập lẫn thế giới Ả rập. V́ thế trung tướng không quân Mubarak đă được Sadat cất nhắc làm Phó tổng thống. Sau khi Tổng thống Sadat bị một nhóm Hồi giáo cực đoan giết vào đầu tháng 10.1981 th́ vài ngày sau Mubarak trở thành Tổng thống Ai cập.
Việc thảm sát Tổng thống Sadat đă gây xúc động lớn trong nhân dân Ai cập và họ hoàn toàn tin tưởng vào người kế vị ông, tức Phó Tổng thống Mubarak và người hùng của Ai cập trước đó ít năm. Nhân dân Ai cập để cho Mabarak toàn quyền hành động và tin những lời hứa của Mubarak sẽ đưa Ai cập tiến đến dân chủ và phú cường. V́ thế Đạo luật “Thiết lập t́nh trạng đặc biệt” sau khi Tổng thống Sadat bị ám sát đă không bị giới hạn thời gian và lănh vực, trái lại đă được Mubarak cố t́nh kéo dài suốt trong 30 năm qua.
Nhưng từ khi nắm được quyền, thay v́ từng bước cải tổ Ai cập từ một nước chậm tiến, lạc hậu và cực đoan thành một xă hội dân chủ, cởi mở và phú cường, Mubarak đă biến Ai cập thành sở hữu riêng của ḿnh và gia đ́nh. Cả quân đội lẫn công an mật vụ đă biến thành công cụ củng cố quyền hành cho Mubarak, gia đ́nh và và vây cánh. Suốt 30 năm qua Mubarak đă cai trị Ai cập theo Đạo luật “Thiết lập t́nh trạng đặc biệt”. Tuy Ai cập cũng có Hiến pháp dân chủ, nhưng Đạo luật này cho phép Mubarak độc quyền trong mọi quyết định. Các cuộc bầu cử Tổng thống và Quốc hội chỉ được tổ chức theo dân chủ chiếu lệ. Mubarak đă thắng trong tất cả các cuộc bầu tử Tổng thống suốt trong 30 năm qua và được coi là Tổng thống lâu nhất thế giới. Các cuộc bầu cử Quốc hội cũng chỉ là dân chủ trá h́nh. Đảng của chính quyền Mubarak luôn luôn chiếm đa số tuyệt đối, đàn áp các tổ chức đối lập và các nhân sĩ dân chủ. V́ tuổi cao nên Mubarak cũng đă dự tính đưa con trai lên kế nghiệp!
Đối với Mĩ và Âu châu, Mubarak đă tuyên truyền coi như chế độ của ông đang được ḷng dân, tạo được ổn định chính trị lâu dài và là lực ngăn cản hữu hiệu các tổ chức Hồi giáo cực đoan. Ai cập giữ vị trí chiến lược quan trọng ở Trung Đông : Với dân số trên 80 triệu người là nước đông dân nhất ở Trung Đông, kênh đào Suez là đường huyết mạch vận chuyển dầu hỏa và hàng hóa từ Trung đông sang Mĩ và Âu châu. Ai cập đă từng có nền văn minh cao trên thế giới và là nước lănh đạo trong thế giới Ả rập, lại có chính sách chung sống ḥa b́nh với Do thái.
V́ hội đủ những điều kiện này nên Mĩ và EU suốt mấy thập niên qua đă coi Mubarak là người bạn thân thiết, đồng minh tin cậy, đổ nhiều viện trợ và đầu tư cho Ai cập, nhắm mắt bỏ qua những cuộc đàn áp đối lập, chà đạp nhân quyền và các cuộc bầu cử gian lận của Mubarak. Riêng Mĩ mỗi năm bỏ ra trên 2 tỉ USD viện trợ cho Ai cập, trong đó khoảng 1,3 tỉ USD cho viện trợ quân sự. Các sĩ quan Ai cập đều được huấn luyện tại các trường quân sự ở Hoa ḱ.
Cuộc nổi dậy rất nhanh, vũ băo, nhưng ḥa b́nh và đầy tinh thần trách nhiệm
Cho tới gần đây các đồng minh của Mubarak vẫn tin rằng ông ta vẫn nắm chủ động t́nh h́nh chính trị và chế độ Mubarak rất ổn định. Nhưng chỉ vài tuần sau chế độ độc tài Ben Ali bị nhân dân Tunesien, đặc biệt là giới thanh niên và các giới có học, lật đổ th́ phong trào nổi dậy của nhân dân Ai cập đă diễn ra rất nhanh, dồn dập và mănh liệt không ai tiên liệu trước. Trong tuần lễ đầu của tháng 2. 2011 có những ngày hàng triệu người đă tổ chức các cuộc biểu t́nh rộng lớn chưa từng có ở thủ đô Ai cập và một số thành phố lớn, nhưng tập trung đông nhất ở thủ đô Cairo.
Đại đa số người biểu t́nh là giới trẻ, gồm sinh viên, học sinh, thành phần trung lưu tập hợp nhanh với nhau qua các phương tiện thông tin điện tử Internet như các Blog, Facebook, Youtube, Twitter…do chính họ thiết lập và liên lạc với nhau. Chỉ trong ít ngày phong trào đối lập đă huy động được hàng triệu nhân dân Ai cập, thuyết phục được nhiều nhóm chính trị, nhiều nhân sĩ, kể cả cả các tôn giáo từng chống đối lẫn nhau để cùng tham gia đấu tranh chung chống chế độ độc tài Mubarak.
V́ đa số nhân dân Ai cập đều cảm nhận thấy, suốt 30 năm qua họ đă bị tước đoạt các quyền chính trị, quyền có công ăn việc làm, quyền sinh sống có nhân phẩm. Họ vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng của chế độ độc tài thối nát gia đ́nh trị Mubarak. Ngụp lội trong quyền lực và tiền bạc nên Mubarak đă ngạo mạn khinh thường sự hiểu biết và ư chí của nhân dân Ai cập, nhất là những thế hệ trẻ có tŕnh độ hiểu biết rộng răi, có liên hệ với thế giới bên ngoài, nhận biết được hướng đi chung về dân chủ trên thế giới, cảm nhận được sự tụt hậu của đất nước và những ô nhục mà chế độ Mubarak đă reo giắc cho Ai cập suốt 30 năm qua!
Hàng triệu người trẻ hồ hởi, tự tin, phong cách rất ḥa b́nh nhưng cương quyết đă tự động kéo về Cairo. Mục tiêu duy nhất của những người biểu t́nh là đ̣i Mubarak phải từ chức ngay và tổ chức các cuộc bầu cử dân chủ tự do. Thái độ quả cảm, cương quyết, trật tự và ḥa b́nh của hàng triệu thanh niên đă thuyết phục được quân đội Ai cập. Bộ Quốc pḥng đă công khai nh́n nhận quyền phản kháng diễn ra trong ḥa b́nh trật tự của nhân dân là một quyền chính đáng!
Trước khí thế hùng mạnh của các đoàn biểu t́nh, đêm 1.2 Tổng thống Mubarak đă phải lên tiếng trên đài truyền h́nh là không ra tranh cử Tổng thống vào tháng 9 sắp tới, nhưng lại muốn tiếp tục cầm quyền cho tới khi đó. Mặt khác Mubarak đă để cho các đảng viên của đảng cầm quyền và các lực lượng an ninh dùng xe Bus, ngựa, lạc đà và vũ khí tổ chức chớp nhoáng các cuộc tấn công chống lại người biểu t́nh tay không. Theo tin mới nhất của tổ chức quốc tế Theo dơi Nhân quyền (HRW) th́ hàng ngàn người đă bị thương và gần 300 người đă bị giết.
Ngày hôm sau Mubarak lại tuyên bố „phải ở lại cầm quyền, v́ ra đi lúc này là gây thêm xáo trộn“. Nhưng chính Mubarak là thủ phạm đă gây ra cảnh xáo trộn ngày hôm trước, nay lại gian manh lấy đó làm lí do để ngồi tiếp tục giữ quyền lực. Cùng lúc đó Mubarak c̣n cho tay sai đe dọa và đàn áp các nhà báo ngoại quốc đă tường thuật trung thực về ư chí và thái độ ḥa b́nh của các đoàn biểu t́nh và các hành động côn đồ dă man của chế độ Mubarak. Những việc làm trên của Mubarak cho thấy bọn độc tài đều giống nhau bất cứ ở đâu!
Chỉ là cuộc biến động hay là một cuộc cách mạng?
Cuộc đứng lên của nhân dân Ai cập trong các tuần lễ gần đây có một số đặc điểm:
1. Đây là cuộc nổi dậy phi bạo lực của nhân dân, đặc biệt các thành phần tiến bộ trong các giới trẻ có tŕnh độ học vấn và trung lưu ở Ai cập. Họ cảm nhận trực tiếp và rất thấm thía về những mất mát và thiệt ḥi cho chính bản thân và đất nước do chế độ Mubarak đă gây ra cho Ai cập trong suốt 30 năm qua. Khát vọng lớn nhất của họ là muốn chấm dứt sớm chế độ độc tài và gia đ́nh trị Mubarak đă cai trị bằng độc tài và tham nhũng trên 30 năm, đồng thời muốn thấy một xă hội dân chủ, tôn trọng các giá trị của con người.
2. Đây là cuộc vận động chính trị đầu tiên trên thế giới, trong đó các mạng điện tử Blog, Facebook, Youtube, Twitter… được sử dụng tối đa. Sự nối kết mạng Internet được coi là vũ khí thông tin và cổ động vô cùng nhanh chóng, hữu hiệu cho những người dân chủ trong việc huy động và tổ chức các cuộc biểu t́nh có trật tự, ḥa b́nh với sự tham dự của hàng triệu người với nhiều khuynh hướng chính trị và tôn giáo khác nhau.
3. Chế độ độc tài gia đ́nh trị Mubarak đang dùng mọi thủ đoạn từ hứa hẹn, mua chuộc tới chia rẽ và đàn áp để cố giữ được quyền càng lâu càng tốt. Mubarak đă vội vă cải tổ chính phủ, rồi tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống vào tháng 9, nhưng đồng thời lại cho công an mật vụ từ công khai đến hóa trang thành những bọn côn đồ để đàn áp và khủng bố các người biểu t́nh và đe dọa các nhà báo quốc tế. Hiện nay đang cho vây cánh mở các cuộc đàm phán chính trị với các đoàn thể đối lập để gây nghi ngờ, chia rẽ và mua thời gian.
4. Mĩ và EU đang đứng trước khó khăn: Nếu kéo dài chế độ Mubarak th́ t́nh h́nh sẽ càng xáo trộn hơn và là cơ hội tốt để các nhóm cực đoan, nhất là các phần tử Hồi giáo cực đoan khai thác t́nh h́nh. Nếu can thiệp trắng trợn th́ có thể khơi dậy tinh thần dân tộc của người Ai cập và thế giới Ả rập. Hoa ḱ và EU có biết cách khôn khéo giúp các tổ chức chính trị dân chủ của Ai cập thiết lập chế độ dân chủ thực sự, hay lại phù trợ một vài tướng lănh để có ổn định chính trị giả tạo.
5. Các lực lượng chính trị dân chủ Ai cập và các tổ chức Hồi giáo không cực đoan có ư thức được cơ hội rất tốt và các thách thức trước mắt để ngồi lại cùng nhau lập một liên minh dân chủ rộng răi. Biết tập hợp các thành phần chính trong xă hội, kể cả quân đội, làm hạt nhân và lực lượng hậu thuẫn cho việc thành h́nh một chế độ dân chủ mới ở Ai cập.
Liệu các cuộc “Cách mạng Hoa nhài” ở Tunesien và Ai cập có kết thúc tốt đẹp như các cuộc “Cách mạng Nhung” đă chấm dứt các chế độ độc tài toàn trị Cộng sản ở Đông Âu trước đây hơn 20 năm không? Chưa ai có thể trả lời được câu hỏi này.
T́nh h́nh hiện nay ở Ai cập cho thấy, ḷng dân đă vô cùng bất măn, chán trường với chế độ độc tài đang dâng lên cao. Nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy, các lực lượng dân chủ chưa theo kịp được phong trào của nhân dân, chưa được tổ chức chặt chẽ và biết liên minh với nhau ! V́ thế một số nguy cơ đang xuất hiện: Một phong trào nhân dân rộng lớn đưa ra đ̣i hỏi triệt để cho một cuộc cách mạng dân chủ nhưng cuối cùng có thể trở thành chỉ là một biến động chính trị, thay thế tên độc tài này bằng những kẻ lường gạt chính trị khác. Hoặc sẽ để những phe nhóm quá khích lợi dụng dàn dựng các chế độ dân chủ h́nh thức, rồi mau chóng trở lại độc tài kiểu này hay kiểu khác. Khi đó những sự hi sinh của các giới trẻ sẽ bị phung phí và ḱ vọng nhân dân bị phản bội!
* * *
Một đảng cách mạng đă biến thành phản cách mạng chỉ tập hợp những phần tử phản động và xôi thịt!
T́nh h́nh Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với Ai cập:
1. Chế độ Mubarak đă độc tài gian trá 30 năm ở Ai cập th́ chế độ toàn trị ở VN c̣n độc tài tàn bạo hơn nhiều suốt trên 60 năm, thoạt tiên chỉ ở miền Bắc nhưng từ gần 36 năm qua trên toàn VN. Có thể nói đây là chế độ độc tài tàn bạo chưa từng có trong lịch sử mấy ngàn năm của VN. Nếu thời trẻ Mubarak đă là anh hùng của Ai cập, th́ vào thuở ban đầu nhiều người khởi xướng phong trào Cộng sản ở VN cũng đă từng trở thành anh hùng. Họ đă từng đánh đuổi thực dân, giành độc lập.
2. Nhưng từ khi trở thành Tổng thống Ai cập th́ quyền bính đă làm mù nḥa “anh hùng” Mubarak. V́ tham lam quyền lực nên Mubarak đă gạt bỏ tất cả những lời hứa với nhân dân Ai cập. Mubarak đă lợi dụng “t́nh trạng đặc biệt” để tập trung tất cả quyền hành trong tay, kiêm tổng tư lệnh quân đội; quốc hội, ṭa án, công an đều dưới sự sai khiến của Mubarak. Tất cả các cơ quan nhà nước trở thành công cụ phục vụ tham vọng riêng của Mubarak và gia đ́nh.
Ở VN cũng vậy. Từ khi nắm được chính quyền quyền hành cũng đă làm mù ḷa các “anh hùng Cộng sản” ở VN. Đúng như chính các đồng chí đă nhận xét về họ: Họ đă hiện thành những kẻ “kiêu ngạo Cộng sản”. Sau khi đuổi được thực dân Pháp ra khỏi miền Bắc những người cầm đầu khi đó đă quay mũi súng và lưỡi lê giết hại nông dân, công nhân, trí thức và văn nghệ sĩ -những người đă có công đưa họ lên cầm quyền!
Tuy chiến tranh đă chấm dứt 36 năm, nhưng những người cầm đầu Cộng sản VN đă quên những lời hứa dân chủ tự do. Ngược lại, họ bắt mọi người phải “yêu nước là yêu XHCN”! Mặc dầu vào giữa thập niên 40 người sáng lập của đảng này đă long trọng tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản.
Cũng như Mubarak, những người cầm đầu Cộng sản VN đă biến các cơ quan Nhà nước từ chính phủ, quốc hội, quân đội, công an, ṭa án trở thành công cụ riêng của một số phần tử có quyền lực nhất trong Bộ chính trị. Tổng bí thư cũng là Bí thư quân ủy trung ương, tức Tổng tư lệnh; các tướng lănh và sĩ quan đều phải là đảng viên Cộng sản. Điều 4 Hiến pháp biến Quốc hội trở thành bù nh́n của Bộ chính trị. Từ thủ tướng tới các thành viên chính phủ, các sĩ quan cao cấp của quân đội và bộ Công an đều do Bộ chính trị quyết định!
3. Trong khi Mubarak tự do ḅn rút tài sản của nhân dân, trở thành tỉ phú do sự tham nhũng công quĩ th́ những phần tử có quyền lực trong Bộ chính trị Đảng Cộng sản VN đă xây dựng hệ thống độc quyền cho các doanh nghiệp nhà nước để họ và vây cánh tự do ḅn rút, xà xẻo tiền thuế do nhân dân đóng góp, tiền viện trợ và vay của nước ngoài. Núp dưới danh nghĩa lănh đạo tập thể họ phủi mọi trách nhiệm cá nhân trong các vụ tham nhũng động trời hàng chục ngàn tỉ như vụ PMU 18, hay gây ra món nợ khủng khiếp cho nhà nước lên tới 86.000 tỉ đồng (4,5 tỉ USD) trong vụ tập đoàn Vinashin…
Cao điểm nhất của bệnh “kiêu ngạo Cộng sản” là Đại hội 11 vừa diễn ra vào giữa tháng 1.2011. Trong đó tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đă cao ngạo đ̣i ghi bằng được yêu sách “Đảng lănh đạo” ngay trong Cương lĩnh chính trị 2011. Điều này có nghĩa là, mặc đầu đảng này đă bị phá sản ngay trong hệ thống tư tưởng Marx-Lenin và các nhóm cầm đầu từ thế hệ này sang thế hệ khác đă trở thành những kẻ độc tài, vô lương tâm và tha hóa đạo đức đến mức cùng cực, nhưng họ vẫn muốn núp dưới danh nghĩa của đảng này để tiếp tục giữ độc quyền cho bọn tham quyền và tham tiền!
Ḷng tham quyền đến mức độ đánh mất liêm sỉ của nhóm cầm đầu đă trở thành ngang ngược và hỗn xược với nhân dân và cả với các đồng chí đă diễn ra công khai ngay trong Đại hội 11, khi Nông Đức Mạnh sau hai nhiệm ḱ làm Tổng bí thư đă để cho con trai chui được vào Trung ương đảng. Nguyễn Văn Chi sau 8 năm làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương, tức cơ quan cao nhất giữ nhiệm vụ kiểm tra của Đảng, trước khi rời chức Ủy viên Bộ chính trị cũng đă t́m mọi cách để con trai nhẩy vào Trung ương đảng. Một trong các thỏa hiệp mua bán quyền lực mà nay đă rơ ra là, Nguyễn Văn Chi đă im lặng khoanh trắng vụ tham nhũng động trời PMU 18 có dính dáng tới gia đ́nh của Nông Đức Mạnh và nhiều cán bộ cao cấp. C̣n Nguyễn Tấn Dũng tuy đă nhận trách nhiệm về vụ Vinashin, nhưng vẫn được bầu vào Bộ chính trị và tiếp tục làm Thủ tướng, không những thế c̣n đ̣i cho bằng được để con trai cũng nhẩy vào Trung ương đảng! Trong khi đó Phó Thủ tướng và Ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Sinh Hùng cũng cất nhắc người cháu vào Trung ương đảng! Giữa lúc ấy biết bao nhiêu người trẻ tuy đă thành đạt trong học vấn nhưng vẫn không kiếm được việc làm thích hợp!
Trong khi họ dành phần lớn th́ giờ của Đại hội 11 cho việc tranh nhau chia phần giữ ghế cho bản thân, gia đ́nh và vây cánh th́ họ đă ngang ngược gạt bỏ không thảo luận những vấn đề quan trọng và bức xúc của đất nước. Sau khi Nguyễn Phú Trọng cấm không cho Quốc hội thảo luận t́nh h́nh an ninh gia tăng căng thẳng trên biển Đông th́ trong Đại hội 11 chính sách đối ngoại thích hợp của VN trước các hành động xâm lấn của bá quyền Trung quốc cũng không được phép bàn tới. Vụ Vinashin cũng bị t́m cách khép lại…
Chính v́ thế, ngay trước Đại hội 11 nhiều cán bộ cao cấp, chuyên viên hàng đầu đă lên tiếng công khai tố cáo những sai lầm, các tội ác và sự tha hóa đạo đức cùng cực của nhóm cầm quyền. Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đă dơng dạc cảnh báo nhóm cầm đầu thối nát về tương lai đen tối của chế độ:
“Chính những người cộng sản chân chính, chính liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động, chính đội ngũ trí thức cũng không muốn bảo vệ một Đảng đă thoái hóa biến chất như vậy. Đó mới là nguyên nhân chính, chứ không phải do kẻ thù của chủ nghĩa xă hội phá hoại là chính. Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán Đảng đă biến chất để xây dựng Đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu.”
Nhiều cán bộ cao cấp và chuyên viên hang đầu cũng đă nguyền rủa “Chủ nghĩa Cộng sản đă là ảo tưởng”, nhóm cầm đầu “toàn là giả dối cả” và kêu gọi các đảng viên “Tại sao chúng ta phải sợ” “, đồng thời nhấn mạnh “Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận !”
Các nhận định đúng đắn, các lời cánh báo và lời hiệu triệu đă đến lúc “không phải sợ” những kẻ cầm quyền thối nát đang trở thành tiếng gọi lay động trong hàng ngũ đảng viên! Điều này được coi là câu trả lời thích đáng nhất của ngay các đồng chí trước thái độ ngang ngược và kiêu ngạo của những người vừa được bầu vào Bộ chính trị và các cơ quan cao nhất trong đảng chỉ v́ tham quyền-tiền nên ngày càng sa đọa, đánh mất lương tri, đánh mất danh dự tổ quốc.
Như vậy thật là rơ ràng, ngày càng có nhiều đảng viên đă tự ư thức trở về đứng trong hàng ngũ của nhân dân để chống lại nhóm cầm đầu độc tài, tham nhũng chỉ biết cúi đầu thần phục phương Bắc. V́ thế trong Đại hội 11 họ đă phải t́m cách tăng cường bọn tướng lănh quân đội và công an trong các cơ quan cao nhất của chế độ. Điều này chứng tỏ là họ đang chuẩn bị ra tay đàn áp các cuộc đứng dậy của công nhân, nông dân, thanh niên, chuyên viên và trí thức. Nhưng như vậy họ cũng đă tự chứng minh là “sự ổn định chính trị” của chế độ rất mong manh!
Sau hai tuần lễ hoàn toàn im lặng về cuộc nổi dậy của nhân dân Ai cập chống chế độ độc tài Mubarak, ngày 8.2 phát ngôn viên bộ Ngoại giao của Cộng sản VN đă đưa ra tuyên bố vỏn vẹn chỉ có một câu ngắn cho thấy rất túng túng và lo sợ: “Việt Nam quan tâm theo dơi những diễn biến gần đây tại Ai Cập và mong muốn t́nh h́nh Ai Cập sớm đi vào ổn định”.
Chế độ toàn trị bị lúng túng v́ đă không dám lên tiếng ca ngợi và ủng hộ các cuộc biểu t́nh rất ḥa b́nh của hàng triệu thanh niên Ai cập đ̣i tự do dân chủ và chống độc tài. Chế độ toàn trị ở VN rất lo sợ, v́ nếu cuộc nổi dậy của nhân dân Ai cập thành công th́ có thể tạo hứng khởi mạnh mẽ cho hàng triệu người VN cũng sẽ xuống đường đ̣i chấm dứt độc tài để thiết lập một chế độ dân chủ tự do! V́ vậy họ chỉ cầu mong “t́nh h́nh Ai cập sớm đi vào ổn định”. Nhưng đây là ổn định nào? Điều họ không dám nói ra là, họ chỉ mong ổn định cho Mubarak hoặc nhóm tay sai! Một ổn định giả tạo mà Mubarak đă đánh lừa Mĩ và EU và nhóm cầm đầu Cộng sản VN cũng đang đánh lừa thế giới!
Từ chính sách đàn áp tàn bạo nhân dân ở trong nước tới thái độ lo sợ và lúng túng không ủng hộ cuộc vận động dân chủ của nhân dân Ai cập đă cho thấy họ đang đứng về phe nào! Trong khi cả loài người tiến bộ tôn vinh ḷng quả cảm, tinh thần dấn thân và thái độ ḥa b́nh của hàng triệu nhân dân Ai cập th́ Bắc kinh im lặng, nên Hà nội cũng phải ngậm miệng. Điều này lại càng chứng tỏ nhóm cầm đầu mới vừa được dựng lên trong Đại hội 11 đă phản động, phản cách mạng và lệ thuộc như thế nào!
Như vậy cho thấy, những người cầm đầu mới của chế độ toàn trị như người đang ngồi trên đống lửa. Họ đang tự hủy hoại uy tín và danh dự! Đại đa số nhân dân khinh bỉ và ngày càng nhiều đảng viên không trọng. Từ khinh bỉ, bất kính trọng tới không sợ chuyển sang không tuân lệnh và chống đối là một logic tất yếu mà chế độ độc tài toàn trị đang phải đương đầu!
* * *
“Nói tóm lại, sự tham nhũng và lộng quyền ngay từ cấp cao nhất của chế độ toàn trị, sự sụp đổ của Liên xô và sự băng hoại của chủ nghĩa Marx-Lenin, áp lực của Bắc kinh, sức ép phải đổi mới theo kinh tế thị trường và làn sóng của việc hội nhập quốc tế dưới ảnh hưởng quyết định của các nước Tây phương, sự ư thức và tự tín của nhiều thành phần trong nhân dân… tất cả những sự kiện này ảnh hưởng hổ tương lên nhau, đan xen lẫn nhau, tác động ngày càng mạnh và càng rơ vào xă hội ở mọi tầng lớp đang gây bất lợi rất lớn đối với chế độ độc tài toàn trị. Sức ép mạnh này đang chuyển vào trong ḷng chế độ và đang tạo phân hóa, ḱnh chống lẫn nhau ngày càng trầm trọng ở ngay cấp trung ương.
Nạn tham quyền, tham tiền và các tệ trạng xă hội, sức chống đối ngày càng mạnh của nhân dân và áp lực của quốc tế khiến cho chế độ Cộng sản VN hiện nay có thể ví như một viên gạch bị mục, lại bị ngâm trong nước lâu năm, nên rất dễ bị vữa ra bất cứ lúc nào! Nó cũng có thể ví như một con đê trông bề ngoài th́ tưởng là c̣n rất vững chắc, nhưng phía trong bọn chuột và mối đă đục khoét vữa ra, cho nên nhiều khi chỉ một cơn lũ cũng có thể làm tan vỡ con đê!”
Trên đây là nhận định của cùng người viết trước đây gần 4 năm trong bài “Dự án về một sách lược chung trong giai đoạn chuyển tiếp: Những Người Dân chủ Đa nguyên hăy thống nhất sách lược và hành động để thắng độc tài toàn trị!” *
Hướng đi này đang diễn ra ngày càng rơ ràng và mănh liệt ở ngay trong ḷng của chế độ toàn trị, trong tâm tư của các giới trẻ, của trí thức, văn nghệ sĩ, của công nhân và nông dân. Nó đang trở thành mệnh lệnh và lương tâm của mọi người VN, kể cả những đảng viên Cộng sản c̣n biết tự trọng!
Vấn đề quan trọng cuối cùng có tính cách quyết định là, liệu những khuynh hướng, lực lượng, các tổ chức, trí thức và nhân sĩ ở trong và ngoài nước có biết rút các kinh nghiệm từ các cuộc “Cách mạng Nhung” ở Đông Âu trước đây và “Cách mạng Hoa nhài” ở Trung đông hiện nay hay không. Để cùng nhau dám vượt qua các trở ngại, sớm ngồi lại với nhau, chuẩn bị các bước cần thiết, có sách lược thích hợp để đưa cuộc đấu tranh được đại đa số nhân dân VN hưởng ứng, nhằm chấm dứt chế độ độc tài toàn trị và xây dựng một xă hội dân chủ đa nguyên, độc lập, hạnh phúc cho nhân dân và phú cường cho đất nước ngay trong thập niên thứ hai của thế kỉ này!
*Xem nguyên bản Dự án này trong phần Thời sự của Tạp chí Dân chủ và Phát triển
http://www.dcvapt.net/thoisu/baithoisu2007/adt279.htm

Các nhà dân chủ VN nghĩ ǵ về cuộc “Cách Mạng Hoa Lài”?
Thanh Quang, phóng viên RFA

Cuộc “Cách Mạng Hoa Lài” ở Tunisia loại được gần như cả chế độ độc tài dài lâu Zine al-Abidine Ben Ali và tiếp tục làm chấn động thế giới Ả Rập, nhất là tại Ai Cập hiện giờ, hẳn mang lại một “luồng gió mát” cho phong trào dân chủ tại VN.
 

AFP photo
Bộ trưởng Ngoại giao Slim Amamou tuyên thệ nhậm chức với sự bất măn cao độ của dân chúng hôm 18/1/2011.
Các nhà dân chủ đón nhận “luồng gió mát” đó ra sao?
Vui mừng và hy vọng
Nhiều nhà dân chủ trong nước bày tỏ vui mừng và hy vọng sẽ có đổi thay từ biến cố Ả Rập. Chẳng hạn như từ Hà Nội, LS Lê Thị Công Nhân, một nhà bất đồng chính kiến dũng cảm, bày tỏ tâm trạng ấy như sau:
“Qua tiếp xúc với một số người và cá nhân tôi th́ tôi thật sự cảm thấy rất vui mừng cũng như rất bất ngờ về sự kiện đó v́ tất cả chúng ta đều biết rằng ngày hôm trước chẳng ai ngờ được như vậy và ngày hôm sau th́ tất cả hăng thông tấn đưa tin rầm rộ khiến tôi thậm chí c̣n nghĩ là không biết thực tế có tới mức độ như vậy không.
V́ thực chất họ biết là có những tương đồng với những thế chế bị lật đổ đó, nên họ phải suy nghĩ đến sự đổi thay.
LS Lê Thị Công Nhân
Với sự kiện ở Tunisia rồi Ai Cập và các nước Ả Rập khác, tất nhiên những người như chúng tôi trong phong trào dân chủ quan tâm đến vấn đề chính trị nói chung và dấn thân vào hoạt động chính trị bên “lề trái” th́ chúng tôi đặc biệt quan tâm hơn và vui mừng.
Và tôi tin chắc rằng những người lănh đạo của CS VN nói riêng và cả đảng CS nói chung sẽ quan tâm và suy nghĩ. V́ thực chất họ biết là có những tương đồng với những thế chế bị lật đổ đó, nên họ phải suy nghĩ đến sự đổi thay.”
Khuyến khích và gợi ư
 
freedom-map-250.jpg

Bảng xếp hạng về mức độ tự do ở châu Á của Freedom House.
Tại Saig̣n, nhà bất đồng chính kiến hàng đầu, BS Nguyễn Đan Quế, nhận định rằng đây là diễn biến trọng đại có tính cách khuyến khích và gợi ư cho phong trào dân chủ ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là tại VN và cả Miến Điện ở vùng Đông Nam Á. Và ông nhấn mạnh tới xu thế dân chủ hóa toàn cầu như sau:
“Việc đầu tiên cần phải nói là phong trào dân chủ nằm trong xu thế toàn cầu. Chúng tôi nương theo cả một xu thế toàn cầu, nghĩa là có được sự ủng hộ, hoan nghênh của xu thế thời đại. Bây giờ xu thế thời đại đang nằm trong tay của những người hoạt động trong nước này.
Tôi có thể nói vắn tắt rằng chuyện thay đổi từ bên trên xuống gọi là đổi mới cải tổ do Bộ Chính trị thực hiện, th́ họ bắt đầu làm từ năm 1986 đến giờ là 25 năm rồi. Về mặt kinh tế, với số vốn rất lớn do ngoại quốc đầu tư vào, giúp rất nhiều, nhưng phải nói rằng VN sử dụng đồng vốn đó rất kém cỏi, kế hoạch phát triển kinh tế không tương xứng với tiền đầu tư vào. Đó là một sự thất bại lớn lao trong việc phát triển kinh tế khiến đưa đến hố ngăn cách giàu-nghèo ở VN ngày càng tăng. Trong khi đại đa số rất nghèo th́ thiểu số giàu có lợi dụng quyền thế, tham nhũng để làm giàu thêm.
Có thể sau những diễn biến ở Tunisia, ở Algeria, ở Ai Cập th́ cuộc cách mạng dân chủ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở VN và Miến Điện có rất nhiều cơ may xảy ra trong một thời gian rất nhanh.
BS Nguyễn Đan Quế
Giữa lúc ḷng dân bất măn cộng thêm xu thế thời đại như vừa nói th́, trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin với kỹ thuật mới về Internet, điện thoại di động, Twitter, Facebook…, với những cái gương đă và đang xảy ra ở Tunisia, Ai Cập th́ phong trào dân chủ không cần phải tổ chức như ngày xưa. Nhưng ḷng dân đă như thế, xu thế thời đại đă như thế trong khi các cường quốc đều muốn có một sự thay đổi dân chủ để phát triển, th́ theo tôi, phong trào dân chủ VN có được những yếu tố thuận lợi. Có thể sau những diễn biến ở Tunisia, ở Algeria, ở Ai Cập th́ cuộc cách mạng dân chủ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở VN và Miến Điện có rất nhiều cơ may xảy ra trong một thời gian rất nhanh.”
Tạo được tiền đề
 
000_Hkg4448646-250.jpg

Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng tại phiên khai mạc Đại hội Đảng lần 11 hôm 12/1/2011. AFP photo
 
Các nhà dân chủ trong nước nhận định rằng diễn biến Tunisia, Ai Cập và những nước Ả Rập hiện giờ chủ yếu nêu lên tấm gương về sự vùng dậy của quần chúng trước ách độc tài, độc đoán và t́nh trạng tước bỏ quyền sống của người dân. Và dù phương cách phản ứng có khác nhau giữa những xứ Ả Rập và phong trào dân chủ tại VN, nhưng các nhà dân chủ tin rằng kết quả cuối cùng vẫn bắt nguồn từ t́nh trạng người dân không chịu đựng nỗi sự đàn áp xem chừng như ngày càng mạnh mẽ trong nước. Từ Hà Nội, Giáo sư Nguyễn Thanh Giang nhận xét:
“Tôi nghĩ là ở VN, khung cảnh rồi đây sẽ không giống hệt như Tunisia. Nhưng t́nh trạng chín mùi của nó cũng đă tạo được tiền đề. Đặc biệt là sau Đại hội 11 của đảng CS, ḷng người có điều ǵ đó bức bối – bức bối trong nhiều tầng lớp: tầng lớp xă hội và cả tầng lớp elite ngay chính trong đảng. Người ta tưởng rằng đường lối mới sau Đại hội 11 sẽ khá hơn, cởi mở hơn, sẽ dân chủ hơn được một chút nào. Nhưng dấu hiệu trước mắt th́ thấy không có ǵ khả quan cả.
Cho nên có người nói Tunisia là hôm nay và VN sẽ là Tunisia ngày mai. Điều đó sẽ là hiện thực nếu con đường đàn áp độc tài độc đoán này không được cải thiện.
GS Nguyễn Thanh Giang
Tôi nghĩ ở VN rồi sẽ bùng nổ biến cố kiểu khác hơn Tunisia. Nhưng kết quả cuối cùng vẫn là phát xuất từ t́nh trạng người dân không chịu nỗi sự độc tài, độc đoán, áp bức đối với quyền sống của con người. Cho nên có người nói Tunisia là hôm nay và VN sẽ là Tunisia ngày mai. Điều đó sẽ là hiện thực nếu con đường đàn áp độc tài độc đoán này không được cải thiện.”
An phận và nhẫn nhục?
Nhưng nhiều người e rằng “hoa lài” Tunisia, dù đang lan tỏa đáng ngại trong thế giới Ả Rập, khó có thể tỏa hương tới VN v́ trước hết bộ máy đàn áp của Hà Nội, nói theo lời blogger Tô Hải, “kinh lắm”. Lại thêm người dân xem chừng như an phận với những ǵ họ đang có so với trước kia. Mối quan ngại đó cũng được LS Lê Thị Công Nhân bày tỏ:
“Tôi cảm thấy là cho tới giờ phút này, chế độ độc tài toàn trị VN vẫn bưng bít được thông tin, vẫn ngăn chặn được những sự kiện cách mạng dân chủ đang nổ ra tại hàng loạt những xứ Ả Rập như vậy.
Nhưng theo tôi, sự khác biệt quan trọng ở đây là hướng tiêu cực nghiên về phía VN. Tức là dân VN chúng ta, phải thẳng thắn mà nói, quá an phận và nhẫn nhục.
LS Lê Thị Công Nhân
Trong dân cư VN, trong cộng đồng mà tôi đang sống giữa thủ đô Hà Nội th́ theo cảm nhận của tôi thực sự là những sự kiện ấy không ảnh hưởng đáng kể ǵ đến dân chúng. Nhiều người tôi thấy họ chẳng biết Tunisia là ở đâu hay Bắc Phi là ở chỗ nào. Một mặt th́ khoảng cách địa lư khá xa xôi, mặt khác về văn hóa có một sự khác biệt rất lớn.
Nhưng theo tôi, sự khác biệt quan trọng ở đây là hướng tiêu cực nghiên về phía VN. Tức là dân VN chúng ta, phải thẳng thắn mà nói, quá an phận và nhẫn nhục. Cho nên sự thay đổi theo hướng như các nước vừa nói th́ có lẽ trong tương lai gần, tôi không nghĩ có ảnh hưởng ǵ nhiều tới VN. Nhưng trong tiến tŕnh phát triển dân chủ của thế giới, của cả nhân loại th́ rơ ràng đấy là những sự kiện rất bất ngờ và có ảnh hưởng lớn.”
Sức mạnh của ḷng dân
 
ai-cap-02042011-250.jpg

Hàng chục ngàn người biểu t́nh tại Công trường Tahrir hôm 04/02/2011 cho biến cố “Ngày lên đường” đ̣i TT Hosni Mubarak từ chức sau khi ông tuyên bố không thể ra đi vào lúc này v́ sợ Ai Cập sẽ bị hỗn loạn. AFP Photo/Mohammed Abed.
Và lịch sử từng chứng minh rằng sức mạnh của ḷng dân mới chính là yếu tố sau cùng quyết định sự tồn tại của một chế độ. BS Nguyễn Đan Quế đề cập tới nhân tâm ấy trong xu thế dân chủ hiện nay:
“Nguyện vọng của người dân VN bây giờ là muốn ǵ ? Nhân dân VN không chấp nhận một sự lạm dụng quyền thế quá đáng của cả một hệ thống chính trị, của cả một hệ thống chính quyền. Nhân dân không thể chịu đựng được nữa. Người ta muốn một nước VN mới, tôn trọng nhân quyền, thực thi dân chủ, có tự do. Th́ đây là lúc tiếng nói của dân tộc VN, trong đó có tiếng nói của giới bị áp bức thấp cổ bé miệng. Và chính quyền phải nghe. Tôi nghĩ rằng xu thế thời đại sẽ ủng hộ tiếng nói của anh em dân chủ chúng tôi.”
Thưa quư vị, sau khi tạp chí Asia Times cảnh báo t́nh trạng áp bức, bất công xă hội tiếp diễn tại VN có thể tạo điều kiện cho “hương lài Tunisia” lan tỏa tới VN th́ mới đây, nhật báo Tribune De Genève của Thụy Sĩ có bài đề cập tới sự tương đồng giữa chế độ độc tài Tunisia vừa sụp đổ với các thể chế toàn trị như VN và cả TQ.
Nội dung bài báo có đoạn mô rả rằng “Tại TQ và VN, các chế độc độc tài CS đă biến thành tập đoàn Mafia Đỏ tham ô trắng trợn, cai trị không khoan nhượng từ hơn 6 thập niên nay, nơi mà sự đàn áp đẫm máu c̣n tàn tệ gấp nhiều lần chế độ Ben Ali ở Tunisia… Dân chủ chỉ có được khi chính người dân bất măn cùng cực, nổi dậy, xuống đường biểu t́nh như đă thấy ở thế giới Ả Rập”.

Tâm thư gởi các anh em trong Quân Đội và Công An NDVN
Thân gởi quư vị trong hàng ngũ quân đội và công an nhân dân Việt Nam,
Khi ngồi trước máy vi tính để đánh những ḍng chữ này gởi đến quư vị, tôi nghĩ rằng dù sao th́ quư vị cũng vẫn là những con người cùng chung ḍng máu và Tổ quốc với 87 triệu nhân dân VN. Dĩ nhiên, sự mất mát đau thương mà cả cộng đồng dân tộc đang phải gánh chịu, chắc chắn trong ḷng của quư vị cũng không vui bởi v́, dù muốn dù không th́ sự mất mát và đau thương này vẫn ảnh hưởng đến thân nhân và có thể là gia đ́nh của quư vị nữa. Về cá nhân, tôi luôn luôn nghĩ rằng: rồi đây sẽ có một ngày không xa, tất cả quư vị sẽ nh́n thấy được con đường chính nghĩa để trở về đúng với nhiệm vụ của ḿnh đối với đất nước và nhân dân.
Quư vị là những người con yêu của Tổ quốc, của đất nước và của nhân dân, bản thân của quư vị đều phát xuất từ nhân dân mà ra, đồng lương mà quư vị đang thụ hưởng là tiền đóng thuế của 87 triệu nhân dân VN chớ không phải của một thiểu số lănh đạo ĐCSVN. Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ đất nước, nhiệm vụ của công an là thi hành luật pháp, bảo vệ trật tự và sự yên lành cho toàn dân, c̣n ĐCSVN chỉ là một phần rất nhỏ vài ba triệu người trong cộng đồng dân tộc mà thôi, nếu quư vị mang trên ḿnh màu áo nhân dân mà lại tuyệt đối trung thành với đường lối của một thiểu số người lănh đạo ĐCSVN và chỉ biết có đảng là trên hết, đồng hóa t́nh yêu quê hương và Tổ quốc ngang hàng với XHCN là không đúng bởi v́, quê hương và Tổ quốc là do tiền nhân của chúng ta từ ngàn xưa xây dựng tạo thành và được tồn tại măi măi theo ḍng lịch sử, c̣n CNCS hay CNXH chỉ nhất thời trong một giai đoạn lịch sử, mà lịch sử th́ phải thay đổi theo thời gian cho phù hợp với trào lưu tiến bộ của nhân loại.
Đường lối của các nhà lănh đạo ĐCSVN hiện nay là luôn luôn kiên định với chủ nghĩa Marx-Lenin qua hệ thống XHCN như lời khẳng định của tân TBT đảng Nguyễn phú Trọng, mà chủ nghĩa Marx-Lenin th́ quá lỗi thời không c̣n phù hợp trong giai đoạn hội nhập vào trào lưu tiến bộ của thế giới rồi. Chính v́ thế cho nên, các nước tiền đồn của chủ nghĩa CS như Liên sô cũ và cả khối Đông âu đă mạnh dạng từ bỏ nó đă hơn 2 thập niên qua, ngay cả ĐCS tiến bộ Pháp cũng phải thay đổi để chuyển sang đường hướng mới, đường hướng của tự do, dân chủ và công bằng trong đó, mọi người đều có quyền b́nh đẳng như nhau về mọi vấn đề của xă hội nghĩa là, anh có quyền phát biểu th́ tôi cũng có quyền phát biểu, anh có quyền ứng cử th́ tôi cũng có quyền ứng cử, anh có quyền thành lập đảng phái để đưa ra những kế sách xây dựng đất nước, phục vụ nhân dân cũng như ra các tờ báo để thực hiện quyền tự do ngôn luận th́ tôi cũng vẫn có cái quyền đó, v.v…, quyết định sau cùng để cho anh hoặc đảng của anh có quyền lănh đạo đất nước là của toàn dân thông qua trưng cầu dân ư hoặc bầu cử trong sự tự do và công bằng.
Cái xu hướng để cùng nhau phát triển của cộng đồng nhân loại hôm nay là sự cạnh tranh bởi v́, có cạnh tranh th́ con người mới phát huy được khả năng và trí tuệ của ḿnh. Nếu một quốc gia có nền dân chủ đa nguyên từ 2 đảng trở lên th́ quốc gia đó sẽ không bao giờ lạc hậu bởi v́, các đảng phái sẽ tự t́m nhân tài thực sự và đưa ra những chủ trương, đường lối hay và phù hợp với thời đại đúng ư nguyện của toàn dân th́ sẽ được nhân dân ủng hộ và sẽ đắc cử vào vai tṛ lănh đạo đất nước. Trong thời gian một đảng nào đó lănh đạo đất nước, th́ các đảng phái hoặc cá nhân khác không được nhân dân tín nhiệm đều có quyền theo dơi và giám sát sự điều hành của một cá nhân hoặc đảng cầm quyền để từ đó có những kế sách cũng như kinh nghiệm cho những lần bầu cử tiếp theo, đảng cầm quyền nếu muốn được nhân dân tiếp tục ủng hộ th́ bắt buộc phải thực hiện tốt những ǵ đă hứa trước toàn dân khi ứng cử.
T́nh trạng tham nhũng, độc tài sẽ được giới hạn tối đa trong nền dân chủ đa nguyên nhờ hệ thống tam quyền phân lập để kiểm soát lẫn nhau, quốc hội là cơ quan lập pháp được dân bầu lên để đại diện cho mọi thành phần trong xă hội, quốc hội làm ra luật pháp và biểu quyết các chính sách quan trọng của đất nước đối nội cũng như đối ngoại, chính quyền lănh đạo đất nước đóng vai tṛ hành pháp để thi hành luật pháp và các chính sách do quốc hội đề ra, quốc hội cũng có vai tṛ giám sát và bất tín nhiệm đối với người lănh đạo đất nước, tất cả những nhân tài phục vụ trong quốc hội và chính quyền phải là những người tự nguyện để nhân dân chọn lựa, ṭa án đóng vai tṛ tư pháp để xử lư các cá nhân hoặc bất cứ thành phần nào trong xă hội kể cả người lănh đạo cao nhất nếu vi phạm pháp luật. Ba cơ quan Lập pháp (quốc hội), hành pháp (chính quyền), tư pháp (ṭa án) đều độc lập với nhau, ngoài ra c̣n có cơ quan ngôn luận (báo chí) kể cả báo chí đối lập với chính quyền đều được tự do hoạt động theo pháp luật, ngân sách nhà nước là tiền đóng thuế của nhân dân chỉ được dùng để trả lương cho những ai phục vụ trong guồng máy chính quyền, cũng như sử dụng vào các chương tŕnh ích quốc lợi dân, c̣n mọi hoạt động của các đảng phái kể cả đảng cầm quyền đều phải tự kiếm tiền riêng để hoạt động không được lấy từ ngân sách quốc gia, công nhân của các nghiệp đoàn, xí nghiệp sản xuất đều được tự do thành lập công đoàn riêng để bảo vệ quyền lợi của ḿnh trước giới chủ. Hệ thống điều hành đất nước có logic như thế th́ làm sao đất nước không tiến bộ cho được. Chính v́ thế cho nên, hầu hết các quốc gia tiên tiến và phát triển trên thế giới đều là những nước có nền dân chủ đa nguyên, cuộc sống của người dân cũng như đồng lương của công nhân trong các nước dân chủ đa nguyên khiến cho các nước theo CNCS như VN hoặc các nước độc tài không CS có nằm mơ cũng không được.
Nh́n lại t́nh h́nh đất nước VN của chúng ta th́ sao, thật là bất hạnh phải không quư vị. Những mất mát đau thương khi quay về quá khứ của những ngày mà nhân dân miền Bắc VNDCCH phải sống trong cảnh tối tăm sau ngày chia đôi đất nước 1954. Cũng v́ ư thức hệ cộng sản muốn dành quyền độc tôn lănh đạo mà chủ tịch HCM mới phát động phong trào cải cách ruộng đất và nhân dân giai phẩm với những cảnh cha con, chồng vợ, thân nhân họ hàng phải đấu tố lẫn nhau theo lời kêu gọi của đảng, khiến cho luân thường đạo lư ngàn đời của dân tộc không c̣n nữa, hậu quả là hàng trăm ngàn người dân vô tội phải bị chết oan hoặc bị tù đầy. Rất may cho nhân miền Nam VNCH v́ không theo CNCS cho nên, đă thoát khỏi cảnh địa ngục trần gian này, phải công nhận rằng trong thời gian đó mặc dù, cuộc sống của nhân dân miền Nam không là cái ǵ đối với thế giới, nhưng nó cũng vẫn như là một thiên đường đối với nhân dân miền bắc. Do đó mới có trên 1 triệu người bất chấp hiểm nguy di cư vào Nam, đây là một thực tế khách quan mà tôi nghĩ rằng hàng lănh đạo CSVN không thể nào chối cải bởi v́, các chứng nhân trong giai đoạn đen tối này hôm nay vẫn c̣n sống rất nhiều trong đó, cũng có các lăo thành cách mạng mà bây giờ đă thức tỉnh kể lại như: trung tá Trần Anh Kim, Người lính già Vũ Cao Quận, đại tá Phạm Quế Dương, đại tá Bùi Tín, nhà văn Trần Mạnh Hảo, nhà văn Tô Hải, nhà văn Dương Thu Hương, nhà báo Nguyễn Văn Trấn, v.v…
Sau khi chia đôi đất nước rồi, nếu ông Hồ Chí Minh không phát động phong trào giải phóng miền Nam, mà để cho 2 miền Nam-Bắc được tự do đi và sống theo hướng riêng như Nam và Bắc Hàn của bán đảo Triều Tiên th́ làm ǵ có chuyện quân đội Mỹ và đồng minh của VNCH hiện diện ở miền Nam để các nhà lănh đạo ĐCSVN có cớ lấy chiêu bài chống Mỹ cứu nước hay Mỹ xâm lăng để mê hoặc ḷng người. Làm ǵ có chuyện ĐCSVN nhận viện trợ dồi dào từ Liên sô và TQ để phục vụ cho chiến tranh huynh đệ tương tàn và giải phóng miền Nam. Làm ǵ có chuyện hàng triệu thanh niên của 2 miền đất nước anh em phải bỏ mạng nơi sa trường. Làm ǵ có chuyện ruộng vườn, chợ búa, đường giao thông và tài sản của nhân dân hàng ngày phải chịu sự tàn phá của chiến tranh, cũng như hàng trăm ngàn hoặc có thể là hàng triệu sinh mạng nhân dân chết v́ bom đạn.
Những tưởng cái trang sử đau buồn của dân tộc trong quá khứ sẽ được các nhà lănh đạo CSVN nh́n thấy được lỗi lầm, nh́n thấy được con đường đen tối của CNCS, nh́n thấy được cái họa mất nước khi lệ thuộc vào TQ, nhất là sau thời gian mà cả hệ thống CNCS trên thế giới đă thực sự cáo chung để mà thay đổi tư duy trở về với nền dân chủ đa nguyên cùng với toàn dân xây dựng lại những ǵ đă mất. Nhưng không, họ đă cố t́nh độc tôn quyền hành lănh đạo, cố t́nh vi phạm tất cả những điều khoản trong
hiến pháp về quyền con người do chính họ đề ra, cố t́nh vi phạm luôn cả các công ước quốc tế do chính họ t́nh nguyện tham gia, lợi dụng sự trung thành của lực lượng quân đội và công an, an ninh, mật vụ đàn áp thẳng tay các thành phần yêu nước đấu tranh dân chủ ôn ḥa.
Quư vị thân mến,
Khi c̣n ngồi trên ghế nhà trường chắc quư vị cũng biết rằng, quần đảo Hoàng sa, Trường Sa, Ải Nam Quan, băi Tục Lăm, cao điểm chiến lược 1509 (TQ đổi thành Lăo Sơn), thác Băn Giốc, v.v…, đó là những địa danh ngàn đời của đất nước, đó cũng là niềm tự hảo của dân tộc mà tiền nhân của chúng ta đă hy sinh không biết bao nhiêu xương máu để tạo thành. Nhưng hôm nay, với sự ươn hèn của các nhà lănh đạo CSVN mà các địa danh này đă rơi vào tay của TQ. Công hàm công nhận HS-TS thuộc về TQ ngày 14/9/1958 của thủ tướng Phạm văn Đồng đúng với thông báo của quốc vụ viện TQ trước đó 10 ngày (4/9/1958), và các hiệp định biên giới tháng 12/1999 và hiệp ước về vùng biển vịnh Bắc bộ tháng12/2000, cùng với sự đàn áp thô bạo đối với sinh viên, học sinh và cácnhà dân chủ lên tiếng cũng như mặc áo có hàng chữ HS-TS là của VN sẽ măi măi là một vết nhơ trong lịch sử VN.
Trải qua chiều dài lịch sử, chắc chắn quư vị cũng thừa biết TQ là một lũ người tham lam vô bờ bến, họ không bao giờ từ bỏ mộng xâm lăng đất nước của chúng ta đâu, bằng chứng là các nhà lănh đạo CSVN càng trung thành với t́nh hữu nghị 16 chữ vàng và 4 tốt đối với họ bao nhiêu th́ họ càng lấn lướt chúng ta bấy nhiêu. Trên 60 ngàn chiến sĩ của chúng ta cùng với hàng chục ngàn sinh mạng nhân dân, đă hy sinh trong cuộc chiến với quân đội xâm lăng TQ tháng 2/1979 khi họ xua quân tràn qua biên giới của đất nước chúng ta, cộng thêm hàng loạt các vụ bắt bớ, đánh đập, tịch thu tài sản các ngư phủ của ta và đ̣i tiền chuộc ngay trên vùng lănh hải của ta, thế mà họ vẫn ra lệnh cho đại sứ của họ tại thủ đô Hà nội họp báo phát biểu là “nếu VN hợp tác với TQ th́ sẽ cùng nhau phát triển, c̣n nếu đấu tranh sẽ nhận lấy thất bại”. Những hành động và lời phát biểu của kẻ bề trên như thế sẽ là một sỉ nhục cho Tổ quốc và nhân dân VN, sự im lặng và tiếp tục hợp tác trong tinh thần 16 chữ vàng, 4 tốt mà các nhà lănh đạo CSVN đang thực hiện với kẻ thù TQ là một việc làm phản quốc mà toàn dân VN không thể nào chấp nhận được. Chưa hết, hiện nay hầu hết những công tŕnh trọng điểm quốc gia đều do các công ty TQ trúng thầu. Đặc biệt, với chủ trương lớn đang tiến hành cho TQ tự do khai thác Bauxite Tây nguyên, bất chấp mọi sự can ngăn của các nhà trí thức, khoa học ưu tú của đất nước và đại tướng Vơ Nguyên Giáp, cộng thêm 300 ngàn hecta rừng chiến lược biên giới cho TQ thuê làm chủ thời hạn 50 năm. Đây là những tiến tŕnh êm thấm cho VN sẽ là một Tây tạng thứ 2 của TQ sau này.
C̣n những ǵ đang xảy ra trong xă hội VN dưới sự điều hành của ĐCSVN xuyên qua vai tṛ của chính phủ mà người chịu trách nhiệm trực tiếp là thủ tướng Nguyễn tấn Dũng, đă và đang đưa nền kinh tế VN đi dần về điểm chết, đang đưa đại bộ phận nông dân và công nhân VN tiếp tục cuộc sống bần hàn. Trong khi đó, hầu hết các thành phần lănh đạo của đảng từ trung ương xuống địa phương, kể cả các thành phần có thế lực cấu kết với chính quyền đều có một cuộc sống đầy xa hoa và một tài sản kết sù không thua ǵ các nhà giàu có nhất trên thế giới, mang danh là một nước kiên định lập trường CNCS nhưng hầu hết con cái của các nhà lănh đạo VN đều đi du học ở các nước dân chủ đa nguyên bằng tiền ngân sách quốc gia tức là tiền đóng thuế của nhân dân trong đó, dĩ nhiên cũng có tiền của gia đ́nh quư vị nữa. Tôi tin chắc rằng, đại bộ phận bần cùng của nhân dân vẫn có phần của gia đ́nh và thân nhân của quư vị, bằng chứng là hàng trăm ngàn vụ khiếu kiện dân oan trên khắp miền đất nước đó là những nỗi đau trong cộng đồng dân tộc, chắc chắn đó cũng là những nỗi đau trong ḷng của quư vị.
Hàng trăm ngàn tỷ đồng thất thoát từ các công ty, tập đoàn xí nghiệp quốc doanh mà nhân dân đang gánh chịu từ Vinashine, EVN, Bưu chính viễn thông, Hàng không VN, Than khoáng sản VN, cùng với những vụ tham nhũng tiêu cực chưa được giải quyết dứt điểm như PMU18, PCI, TC2, ODA, vụ in tiền polymer mà công ty môi giới Securency đang được chính phủ Úc làm sáng tỏ, c̣n tại VN th́ vẫn b́nh chân như vại và báo chí không được quyền đụng tới. Đó là mặt nổi, c̣n mặt ch́m chưa khám phá được th́ không biết là bao nhiêu, khiến cho ông Tổng thanh tra Trần Văn Truyền phải công nhận là tham nhũng bây giờ rất tinh vi khó phát hiện bởi v́, họ đâu có kư vào bất cứ văn bản nào. C̣n nhớ khi nhậm chức thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố nếu không diệt hết tham nhũng th́ ông ta sẽ từ chức, nhưng đă 5 năm trôi qua t́nh trạng tham nhũng đang trở thành công khai bất trị khiến cho nền kinh tế đất nước trên đà phá sản,nhưng ông ta vẫn yên vị và nhân dân chỉ nhận ở ông có lời xin lỗi trước QH mà thôi, lại thêm một chuyện buồn cười khi ông được được Vnexpress cùng hàng loạt báo chí VN bầu chọn ông là một người sáng giá nhất năm 2010 của VN và Châu Á.
Nguyên do nào dẫn t́nh trạng xă hội VN bi đát như thế này, tất cả cũng chỉ v́ hệ thống độc tài, độc đảng mà ra khiến cho ông Nguyễn Văn An cựu chủ tịch QH khóa X đă thẳng thắn đ̣i hỏi BCT đảng phải mạnh dạng sửa lỗi hệ thống trong đảng, ông phát biểu trong lần tṛ chuyện với các tướng lănh lăo thành của đảng là hiện nay chế độ của ta là đảng chủ chớ không phải dân chủ bởi v́, tất cả các chức danh và mọi sự điều hành của chính phủ đều do đảng ấn định hết, c̣n QH chẳng qua chỉ là giữ vai tṛ trợ lư cho đảng mà thôi. Vừa qua, biên bản cuộc họp của 20 nhà trí thức ưu tú trong đảng dưới sự chủ tŕ của cựu phó thủ tướng Trần Phương gởi BCH trung ương đảng với lời nhận định: CNCS, CNXH và kinh tế thị trường định hướng CNXH là đầy dẫy cái sai và quá mơ hồ.
Hiện tại, đa số các tướng lănh lăo thành cách mạng, nhân hào trí thức trong đảng và trong nhân dân, tất cả đều muốn đảng phải đi theo con đường dân chủ đa nguyên nếu đảng muốn tiếp tục tồn tại trong ḷng dân tộc, chỉ có con đường dân chủ đa nguyên mới cứu đất nước khỏi phải rơi vào bàn tay TQ, mới cứu dân tộc thoát khỏi cảnh lầm than đen tối. Quư vị và tôi cũng như các nhà đấu tranh dân chủ đă và đang trong tầm ngắm của quư vị, đă và đang bị quư vị theo lệnh của cấp trên đàn áp không nương tay, tất cả chúng ta đều là những đứa con yêu của mẹ VN, đều có cùng màu da, cùng ḍng máu Lạc Hồng, nếu v́ một chủ nghĩa ngoại lai lạc hậu mà coi nhau như kẻ thù là phản lại truyền thống của dân tộc, là bất hiều với tổ tiên, khi quư vị v́ trung thành với đường lối của đảng mà ra tay đàn áp thô bạo đối với các nhà đấu tranh dân chủ ôn ḥa, có khi nào quư vị tự thẹn với lương tâm của ḿnh không?
Lời chỉ dạy của Đức Phật: “ở trên đời có 2 hạng người đáng kính trọng. Hạng thứ I không bao giờ phạm lỗi, hạng thứ 2 phạm lỗi nhưng biết lỗi và thành tâm sửa chữa không tái phạm”. Người tù thế kỷ Trương Văn Sương dù bị đảng đầy đọa trong lao tù suốt 33 năm dài dở sống dở chết, đang bệnh nặng và khi được đảng tạm tha về nhà 1 năm để chữa bệnh, khi trả lời phỏng vấn của PV đài RFA vẫn không có lời thù hận, trái lại ông hy vọng là người VN phải thương yêu nhau để cùng nhau xây dựng đất nước tiến lên ngang tầm thế giới. C̣n người hùng Nguyễn Hữu Cầu hiện đang trong lao tù của đảng cũng có số năm tù thế kỷ như ông Trương Văn Sương, cũng đang bệnh nặng và mù một mắt, mắt c̣n lại th́ mờ mờ sắp mù nữa, nhưng qua lời kể của đứa con gái trong những lần thăm nuôi, ông rất mong sẽ có một ngày các nhà lănh đạo CSVN thể hiện t́nh yêu nước, yêu dân, thực hiện tự do, dân chủ và công bằng.
Khi những ḍng chữ này đến với quư vị cũng là lúc nhân dân các nước Bắc Phi đang sôi sục xuống đường lật đổ ách cai trị của các nhà độc tài, khởi đầu từ Tunisia, lan sang Ai Cập, đến Yemen, Algerie, Sudan, rồi sẽ đến Morocco, Lybia,...
Chẳng ai có thể đoán trước được bao lâu nữa "hương lài Tunisia" sẽ lan tỏa đến các nước Á Châu độc tài như Miến Điện, Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Hàn hay Cu Ba chẳng hạn. Có một điều, từ Đông sang Tây, Âu sang Á, khi quân đội được sử dụng để đàn áp người biểu t́nh, th́ hầu như họ từ chối bắn vào dân lành tay không tấc sắc, bởi v́ nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ đất nước chứ không phải bắn vào chính người dân ḿnh (Trường hợp vụ Thiên An Môn năm 1988 có lẽ là một ngoại lệ, v́ là quân đội cộng sản chăng?). Nếu cuộc "cách mạng Hoa Sen" xảy ra tại Việt Nam, liệu quư vị có mù quáng xả súng bắn vào đám đông đang biểu t́nh không? Nên nhớ rất có thể trong đám đông này có thân nhân của quư vị.
Thiết tưởng bấy nhiêu cũng đủ cho quư vị là những chiến sĩ trong lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân hiểu và suy nghĩ lại chính ḿnh.
Sài G̣n, những ngày cuối năm Canh Dần 2010
Trần Bảo Việt
http://www.dangnguoivietyeunguoiviet.blogspot.com

Ta thấy ǵ sau Đại Hội XI của đảng Cộng Sản Việt Nam?!
Trần Nhân Quyền
Từ khi đảng CSVN làm đại hội lần thứ I họp tại Ma Cao Trung Hoa, ngày 21/03/1935, Nguyễn Ái Quốc đă dựng nên cái tên gọi là đảng Cộng Sản Việt Nam. Nói nôn na là những người Việt Nam tham gia vào đảng Cộng Sản dưới sự lèo lái của một tên tay sai Cộng Sản Đệ Tam Quốc tế, Nguyễn Ái Quốc được Lê Nin nhào nặng tô bột thành một người yêu nước giải phóng các dân tộc bị trị! Thật ra chỉ tṛ tráo cướp nước từ chế độ Thực Dân dâng qua đế quốc đỏ Cộng Sản, và nó c̣n tàn tệ hơn chế độ thực dân gấp bội phần. Bắt nguồn từ cái tên đảng CSVN này, lê lết bên Tàu, nhận tiền của t́nh báo KGB để hoạt động (t́nh báo Cộng Sản Nga), cùng một lúc chạy theo làm tay sai cho Mao Trạch Đông. Rồi tháng Năm, 1941 ḅ về Cao Bằng, xây hang Pac-Bó thành lập cái gọi là Mặt Trận Việt Minh. Lúc này, Thế Giới Đại Chiến II bùng nỗ, thế lực thực dân suy yếu, đảng này lần ṃ về Hà Nội, núp dưới danh nghĩa Mặt Trận Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 09/1945. Bốn chữ viết tắt Mặt Trận Việt Minh gắn liền với tên dài ḷng tḥng là Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, nghe thật hấp dẫn có lá bài “Độc Lập” mà toàn dân Việt Nam đang đói khát, để làm mồi huy động toàn dân đứng lên chống Pháp dành độc lập. Nào có ai ngờ, sau cái bánh vẽ “độc lập” lại là một con sói đang ŕnh để “rinh” cả dân tộc Việt Nam dâng lên làm nô lệ cho Cộng Sản!!!
Kim găm trong túi lâu ngày cũng ḷi mũi ra ngoài, dù nấp dưới hai cái bóng Mặt Trận Việt Minh và chiêu bài Độc Lập, nhưng cái nọc Cộng Sản vẫn ḷi ra. Mặc dù dân chúng thời ấy thiếu tin tức, ít ai hiểu Cộng Sản là ǵ, nhưng khi nghe hai chữ Cộng Sản, ai cũng ớn lạnh tránh né. Có lẻ hồn thiêng sông núi báo trước cho cả dân tộc rằng điều chẳng lành nếu dân tộc rơi vào thảm họa Cộng Sản.
V́ thế cho nên tháng 11/1945 sau khi cướp chính quyền tại Hà Nội, CSVN lại bịp đồng bào một vố lớn, vội vàng tháo gỡ cái bản hiệu bị dị ứng đảng Cộng Sản Việt Nam, treo lên cái bản nhỏ Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác ở Đông Dương...Thụt lùi phía sau, nhưng thật khủng khiếp, dấu tên con sói nhưng nanh vuốt sói lại vồ ra dài hơn, bén hơn...nó dùng Mặt Trận Việt Minh để giết hết những người quốc gia yêu nước chân chính, chỉ c̣n CSVN độc quyền cai trị. Lịch sử đă chứng minh, sự thật không thể chối cải là như thế.
Lên nắm quyền với cái tên Đảng Lao Động Việt Nam, xây dựng miền Bắc Xă Hội Chủ Nghĩa (XHCN) gây bao oan nghiệt, khổ đau cho toàn dân...Bao nhiêu người yêu nước không kịp chạy vào miền Nam tự do sau hiệp định Genève, 1954 th́ bị chúng giết sạch, đưa những người chuyên chính vô sản lên nắm tóc dân cai trị....từ những tay đảng viên “chuyên chính vô sản” phát xuất từ bần cố nông và thành phần công nhân không đi đến trường ngày nào, không biết viết một chữ để thực hiện chính sách “hồng hơn chuyên”; Tức đưa những thành phần không học này lên hàng “lănh đạo”, c̣n trí thức giá trị của nó thua một cục phân, đứa nào dám mở miệng cho ngay vào trại tù cải tạo là xong. Chính sách “hồng hơn chuyên” đó đă gây bao thảm họa cho dân tộc, v́ đám cần đầu không học nhưng tin tưởng vào Đảng c̣n hơn tin vào cha mẹ, vợ con ḿnh. Chúng điên cuồng thực hiện tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế một cách nhiệt t́nh....giết sạch, phá sạch “trí,phú,địa,hào, diệt tận gốc bốc tận rễ” (khẩu hiệu CSVN trí thức, người giàu, người có ruộng vườn, kẻ cường hào ...giết sạch tận gốc rể).
Từ đó đến nay đă 76 năm thành lập đảng CSVN, 66 năm cầm đầu, 11 đại hội Đảng, đưa dân chúng đến lầm than cơ cực, con người sống không ra người, nhân quyền bị chà đạp, tài sản của bao đời xây dựng bị CSVN san bằng nhiều lần, toàn dân sống trong mê sản. Từ một đảng chính trị độc tài sắc máu, thay màu thành một đảng cướp Mafia sắc máu. Từ một nhà nước Xă Hội Chủ Nghĩa (XHCN) đàn áp, cướp cạn ban ngày đến một băng đảng “côn đồ”, giả dạng xă hội đen hành hung người dân. Bao nhiêu đại hội mục đích để chia ghế, với những bài diễn văn đọc chẳng ai hiểu nói ǵ, và chính ngay đảng CSVN cũng chẳng hiểu ḿnh nói ǵ, toàn là điều hoang tưởng đưa dân chúng đến “bến mơ”.
Đă đến lúc người dân trong và ngoài nước, mọi giới phản đối hoặc quay lưng với đại hội XI của đảng CSVN.
Ta nghe những ǵ trong đại hội XI vừa rồi từ thành phần trí thức trong ḷng chế độ?
Những người trí thức sinh ra lầm thế kỷ nên phải làm quân sư lănh “tem phiếu” cho một đảng cướp, họ đă một thời phục vụ cho Đảng Cộng Sản. Họ không đủ can đảm vượt qua cái chết và tù đày của trại Cổng Trời, họ đành phải sống v́ thời cuộc. Chờ thời hoài chẳng thấy ǵ, đến lúc họ phải lên tiếng, mong rằng sự lên tiến của họ để lại cho con cháu sau này không cho họ là “kẻ có học mà ngu nghe theo lời Cộng Sản”. Những lời phát biểu ư kiên đáng ra phải được nói lên từ lâu...nhưng chẳng ai c̣n lạ ǵ trong cái chế độ độc tài toàn trị ấy, mở miệng là vào tù cho đến ngày xuống lỗ...Đă đến lúc chịu hết nỗi, thí mạng già, thà chết vinh hơn sống nhục...Trong hội luận tại Hà Nội tháng 11/2010:
- Giáo sư Lê Duy Phong hiệu trưởng Trường Kinh Tế Quốc Dân cho rằng những lời nói của đảng CSVN là xem thường lịch sử như “Chủ Nghĩa Xă Hội (CNXH) là điều kiện bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc, thế hóa ra là các triều đại trước của cha ông chúng ta độc lập dân tộc mà mỗi một triều đại là vài ba tăm năm, người ta không có CNXH mà vẫn độc lập dân tộc chứ có mất độc lập dân tộc đâu”.
- Giáo sư Trần Phương người chủ toạ buổi hội thảo từng là Ủy Viên Trung Ương đảng CSVN, chủ tịch hội Khoa Học Kinh Tế VN phát biểu: “Tất cả những dự báo của Mác về CNXH và về chủ nghĩa cộng sản, tôi xin lỗi, tôi nói thẳng là sai”. Rồi ông giải thích tiếp: “Ông nói CNXH mà ông không hiểu nó là cái ǵ cả! Ông nói định hướng XHCN mà ông không biết cái định hướng nó là cái ǵ. Ông nói là nền dân chủ XHCN mà ông cóc hiểu dân chủ XHCN khác cái dân chủ tư sản là cái ǵ. Trong khi đó ông mời hết các cái thằng luật gia của Chủ Nghĩa Tư Bản nó đến nó dạy ông. Nhiều chuyện! Tôi nói thật là chúng ta tự lừa dối chúng ta, thực ra là phải nói như thế”. Cuối cùng GS Trần Phương kết luận: “Thế th́ cái CNXH mà anh bảo rằng là lấy cái khẩu hiệu “dân giàu, nước mạnh”, mấy cái câu đó mà thay thế cho CNXH, đấy là CNXH của tớ đấy. Tôi nghĩ không đúng! Ông bịp thiên hạ với cái chữ CNXH của ông, và “Nếu nói rộng ra một tí là ông bịp những người không hiểu biết. Chứ tôi nói xin lỗi ông, các nhà lư luận ngồi đây, ông đọc sách hàng vạn trang, ông biết thừa đi, ông nói như thế là ông nói bậy. Ông bịp người ta”.
- Tiến Sĩ Lưu Bích Hồ trước đây trong các đại hội của cộng đảng, ông đă từng là người được cắt cử vào trong ban viết dự thảo đại hội đảng tự thú: “Cũng nói thật thà là, cũng là hơi khó nói bởi v́ ḿnh là cái tội đồ của cái việc không làm ra được nó hay hơn. Một phần, không phải là ḿnh nhiều đâu, ḿnh có một ít chút đó là tội đồ. Cũng khó nói, viết là viết thuê cơ mà, chứ không phải viết ư của ḿnh”
Vân vân và vân vân ...... c̣n 17 nhà trí thức khác nữa đều đồng một quan điểm!
20 nhà đại trí thức đứng lên với những phản bát toàn bộ những văn kiện dự thảo của Đại Hội XI đảng CSVN rồi kết luận rằng: đảng CSVN vẫn tiếp tục tṛ lừa bịp dối trá để tiếp tục cai trị độc tài làm tay sai bán nước, đi ngược lại quyền lợi dân tộc và ước vọng của toàn dân, lội ngược trào lưu tự do nhân quyền và văn minh tiến bộ của nhân loại....
Tuổi trẻ trong nước nghĩ ǵ về cái đại hội XI ấy?
Bày tỏ trên những email, blogger, và các phương tiện truyền thông Internet v.v... giới trẻ cho rằng đại hội đó (tức Đại Hội XI đảng CSVN) không đem quyền lợi đến cho dân chúng, chỉ là hợp thức hóa địa vị trong đảng để tiếp tục cai trị độc tài và bóc lột người dân....66 năm qua, đảng CSVN nói một đường làm một nẻo, những văn kiện đảng CSVN đưa ra đọc nghe rất kêu, nhưng họ đều làm trái ngược lại 180 độ, thành ra càng ngày càng biến xă hội bất công, áp bức và thật tồi bại. 66 năm rồi, đảng CSVN vẽ nhiều bánh vẽ với nhiều máu sắc hoa mỹ để lừa bịp làm cho người dân mê sản, tưởng là bánh thật họ cứ với tay, nhưng chẳng bao giờ rờ tới miếng bánh.... Ngày nay dân chúng đă thấy rơ, tuổi trẻ đă nh́n ra sự thật, nên việc đại hội Đảng là của đảng CSVN chỉ là chuyện “bịp”.
Điểm ngặt nghèo của dân tộc này là cái đảng “tự xưng” và “đại bịp” đó cứ đè lên đầu lên cổ nhân dân mà dân này th́ cứ lơ là để cho nó ngông nghênh càng ngày càng gây thêm ội ác. Xă hội dưới sự cai trị của Cộng Sản toàn là “bánh vẽ”, gian dối, lừa bịp... từ thiên đường “bánh vẽ” Cộng Sản đến thời kỳ đến địa ngục bo bo, địa ngục kinh tế mới, địa ngục tù cải tạo, địa ngục đi tù v́ tội “nhạy cảm” – không biết trên thế giới có toà án nào có tội “nhạy cảm” này không?!....Đối với “bác” th́ đảng CSVN cho đứng trên cái “bánh vẽ” bự nhất, một người cực kỳ hung ác như “bác” giết bà Nông Thị Xuân v́ sợ người ta biết “bác” có vợ có con, tại sao “bác” làm chuyện phi đạo lư ghê tởm như vậy mà bây giờ vẫn đem tư tưởng của “bác” ra học. Ô hay, ở Việt Nam đảng Cộng Sản đẻ ngược hết cả, cho mặt trời mọc về hướng Tây và lặng ở hướng Đông để làm cho dân tộc Việt Nam không thể hướng về phía trước cứ đi lui về bóng đêm tăm tối....
Người dân trong nước nói ǵ về Đại Hội XI đảng CSVN?

- Người dân trong nước lén lút hoặc công khai bày tỏ về đại hội đảng CSVN như một người dân miền Tây Nam phần nói thẳng “đó không phải là đại hội của ḿnh” và “Đại hội Đảng mấy ‘ổng’ dựng lên tự mấy ông ấy bầu, ḿnh không biết vô phần đó, ḿnh không liên quan, ông nào lên cũng như ông nấy cũng không thay đổi được cái ǵ. Cuối cùng dân lúc khó không có ông nào chia sẻ.”

- Người trí thức Xă Hội Chủ Nghĩa, luật sư Trần Lâm phát biểu: “Đ̣i hỏi dân chủ phải có đối lập, phải có đa nguyên hay phải có hai phái. Nhưng bây giờ đối lập, anh nào nhoi ra th́ đă bị bắt ngay, như vậy làm ǵ có đảng đối lập. Nếu không có đảng đối lập th́ không bao giờ có dân chủ thực sự được. Thế nhưng bây giờ người ta đang đấu tranh làm sao để những người cầm quyền mở rộng dân chủ ra, phải thay đổi đi th́ đây là một cuộc đấu tranh c̣n lâu dài.....
Tôi không hy vọng cuộc sống sẽ khá hơn sau Đại hội. Chuyên quyền độc đảng kiểu này không mang lại hạnh phúc cho dân đâu. Nên nhớ rằng cứ cái ǵ là độc nó sẽ sanh ra độc thôi. Hiện nay chỉ có một nhóm người hưởng lợi từ thành quả phát triển. Ví dụ con ông cháu cha, con của quan chức họ được lợi nhiều. Dân đen chỉ có thua thiệt. Công nhân khu chế xuất chỉ làm tôi tớ cho chủ ngoại quốc”
Người dân ghét Cộng Sản lắm, nhưng cũng sợ lắm đến nỗi ai làm ǵ th́ làm, ông đây “đếch” quan tâm...thái độ thờ ơ ù lỳ trước những t́nh h́nh chính trị và xă hội nhiễu nhương, dân đen phát biểu: “Đại hội Đảng hả, không quan tâm, chúng tôi c̣n đang phải chạy ăn từng ngày, c̣n nhiều việc khác phải lo đây. Nhà báo hỏi về nhân sự sau đại hội Đảng à, ối giào, ông nào lên ông nào xuống cũng vậy thôi, chả có thay đổi ǵ đâu, dân vẫn khổ thế thôi, Mong đợi ǵ ư, cũng đă mong măi rồi, bây giờ chả mong ǵ nữa, bao nhiêu người cũng lên tiếng măi rồi mà có ăn thua ǵ đâu” v.v…
Người Việt Hải Ngoại như thế nào đối với Đại Hội XI của CSVN?
Trước đại hội, có những người tung tin rằng đại hội XI là đại hội mở, có người về tham gia vào quốc hội mở để đấu tranh dân chủ đưa ra những bất đồng ư kiến ngay trong ḷng địch....Đây là tṛ nằm mơ của Lă Bất Vi, khi muốn lên làm Thái Thượng Hoàng, nhưng bị bạo chúa Tần Thủy Hoàn ép uống thuốc độc tự tử trước mặt thằng con ruột “bạo chúa” của ḿnh....CSVN c̣n hơn bạo chúa một bậc theo công thức “Cộng Sản Việt Nam = Tần Thủy Hoàn + Hitler”... nên có ai trong "đại hội mở" đưa ra ư kiến trái ngược th́ nó không những ép uống thuốc độc, mà nó bắt chết một cách nhục nhă, để cái chết này lưu xú cho con cháu đời sau. Những người tung tin này bây giờ chắc đắng cay lắm, khi nghe đảng CSVN chặt cầu “Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên đa đảng, và nhất quyết không có đa nguyên đa đảng”....cứng họng, thất vọng, chết đứng!!!

Ngoài những kẻ tung hỏa mù tṛ “ḥa hợp ḥa giải” với quỷ đỏ, th́ đại đa số người Việt hải ngoại v́ không sống nỗi với chế độ bạo hành nên đă bỏ nước ra đi, th́ không có lư do ǵ mà thích cái Đại Hội chết tiệc đó, họ chỉ muốn làm sao cho CSVN nó biến đi để Việt Nam được tự do dân chủ.
Người Việt hải ngoại biết rất rơ là CSVN là một tập đoàn bán nước cầu vinh và cầu an, một băng đảng tồi tệ chỉ lo cho sự tồn vong của Đảng để tiếp tục bán đất và bóc lột nhân dân. Do đó, Đại Hội đảng, Hội Nghị Trung Ương của Đảng CSVN chỉ là tṛ “ông Nang ông Nỉnh ông Ninh, ông ra đầu đường ông gặp ông Nang”, Ninh và Nang là đảng viên Cộng Sản có một mục đích làm đảng cướp.
Trước đại hội, công an áo vàng và không áo với sự chỉ đạo của Nguyễn Tấn Dũng quật ngă một viên chức đại diện ngoại giao Hao Kỳ khi đến thăm LM Nguyễn Văn Lư, rồi đẩy lên xe bịt bùng, tống về toà đại sứ Hoa Kỳ, đă làm cho giới dân cử hoa kỳ kết luận đương quyền CSVN hiện nay là “nhà nước côn đồ”.
Dân tộc đang đứng trước những cảnh như thế, đảng CSVN đang trước những tồn tại như thế .....tại sao họ tồn tại được? Nhờ “bánh vẽ”, nhờ “mê lộ” người dân nhẹ dạ cả tin, nhờ hành động độc ác làm người sợ rồi dững dưng trước thời cuộc, nhờ các cường quốc đặt quyền lợi quốc gia của họ lên trên hai chữ “nhân quyền”.....
Kết:
Nguyên tắc một chế độ không thể tồn tại khi:
- Trong nội bộ của đương quyền không muốn chế độ đó tồn tại.
- Khi quần chúng không muốn chế độ đương quyền đó hiện diện
- Khi quốc tế không muốn chế độ đó tđồng hành cùng trào lưu của thời đại
Nguyên tắc đó đă có sẵn, nhưng sao CSVN vẫn tồn tại .....v́ một nguyên tắc rất căn bản, nhưng cũng là điều kiện ắt có và đủ là chưa quy tụ được ḷng dân, chưa có điểm tập hợp ngọn cờ tự do dân chủ ....đó yếu tố tổ chức.
Ngày 24 tháng 01, 2011
Trần Nhân Quyền

Ngày mở đầu Đại hội XI: lội ngược ḍng thác
Bùi Tín viết riêng cho VOA Thứ Năm, 13 tháng 1 2011
 
Các đại biểu Quốc hội tham dự lễ khai mạc Đại hội lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam
H́nh: REUTERS
Các đại biểu Quốc hội tham dự lễ khai mạc Đại hội lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đại hội XI đảng Cộng sản Việt Nam đă chính thức khai mạc.
Ngày 9-1, Ban Chấp hành Trung ương khóa X họp phiên 15, phiên cuối cùng để hoàn tất việc chuẩn bị mọi mặt
Ngày 11-1, 1377 đại biểu Đại hội họp trù bị, nghe phổ biến nội quy, chương tŕnh, cử đoàn chủ tịch 24 người, 5 thư kư…Sẽ có 3 ngày nghe tŕnh bày và thảo luận các văn kiện,ngày bàn và bầu về nhân sự, bầu Ban Chấp hành Trung ương và bầu Bộ Chính trị khóa XI, bầu Tổng bí thư. Đại hội sẽ quyết định về việc Tổng bí thư do Đại hội hay do Ban Chấp hành Trung ương mới bầu ra. Hai ngày để làm các việc c̣n lại, nghe tổng hợp ư kiến góp ư vào các văn kiện, tiếp các đoàn đến chào mừng, nghe danh sách các điện mừng từ trong nước và quốc tế…
Sáng 12-1 Đại hội đă chính thức khai mạc. Sau nghi thức, ông Nguyễn Minh Triết đọc lời khai mạc; ông Nguyễn Tấn Dũng cám ơn các khách mời trong nước và quốc tế đến dự; đoàn thư kư đọc danh sách 121 điện chúc mừng từ các nước trên thế giới. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh giới thiệu nội dung các văn kiện tŕnh Đại hội, tóm tắt Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Cương lĩnh quá độ lên chủ nghĩa xă hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xă hội 2010-2020.
Trong pḥng họp lớn đầy màu sắc cờ hoa, biểu ngữ, nổi lên chính giữa, trên cao h́nh của 2 ông Marx và Lenin.
Trong báo cáo tóm tắt của ông Nông Đức Mạnh, ở phần rút ra những kinh nghiệm lớn trong 5 năm qua, đă khẳng định nắm vững chủ nghĩa Marx – Lenin là bài học quan trọng nhất, và tiếp theo kinh nghiệm quư giá là giữ vững định hướng xă hội chủ nghĩa.
Chỉ qua 2 bức h́nh lớn của 2 ông Tây, người Đức và người Nga, và qua 2 kinh nghiệm quan trọng nhất được chỉ ra, là kiên định chủ nghĩa Marx- Lenin và chủ nghĩa xă hội, đă có thể nhận ra những nguy cơ đất nước đang trải qua và tương lai đầy khó khăn và bế tắc ở ngay trước mắt. Bất cứ ai có ḷng tự tôn dân tộc, yêu nước thương dân, không thể không suy nghĩ về những nguy cơ hiển nhiên ấy, đang ngăn cản đà vươn lên trong đổi mới và ḥa nhập của đất nước, làm thui chột triển vọng phát triển bền vững của dân tộc.
Chẳng lẽ tất cả 1.377 vị đại biểu ngồi trong hội trường, nh́n lên 2 bức chân dung Marx và Lenin đều không biết rằng trong 20 năm qua đă có hàng trăm công tŕnh nghiên cứu của các học giả nổi tiếng nhất đánh giá lại đầy đủ, sâu sắc về ưu điểm, khuyết điểm, vể đúng sai của học thuyết Marx và chủ nghĩa Lenin, và hầu hết các công tŕnh khách quan, khoa học đều kết luận đó là những học thuyết sai nhiều hơn đúng, đưa ra áp dụng thực tế đều thành tai họa kinh khủng cho mọi nơi. Các công tŕnh nghiên cứu đều kết luận các học thuyết ấy cùng với hậu quả chúng mang lại lả những lỗi lầm bi đát của lịch sử loài người.
Chẳng lẽ hàng trăm vị tiến sỹ, phó tiến sỹ trong Học viện Chính trị Quốc gia Hà Hà Nội, nơi tham gia dự thảo các văn kiện trên đây, không biết rằng số nạn nhân bỏ mạng một cách phi lư, tủi nhục do vận dụng học thuyết của 2 ông có râu trên đây đă lên đến trên dưới 100 triệu sinh linh, thuộc đủ khu vực, màu da. Họ là nạn nhân của đấu tranh giai cấp, của chuyên chính vô sản, của thanh trừng, cải tạo, của xóa bỏ tư hữu, của nhảy vọt, của cách mạng văn hóa, của đấu tranh phe nhóm, của kỳ thị dân tộc và kỳ thị tôn giáo trong đường lối của đảng cộng sản...
Chẳng lẽ bà con ta ở trong nước không biết rằng ở giữa thủ đô Washinhton DC của Hoa Kỳ có một tượng đài kỷ niệm những nạn nhân của chủ nghĩa xă hội hiện thực và chủ nghĩa cộng sản, con số nạn nhân xin nhắc lại là lên đến một trăm triệu, nhiều nhất là dân Trung Quốc, rồi dân Liên Xô, dân Ba Lan, Do Thái, Triều Tiên, Đức, Nam Tư, Campuchia, Mông Cổ…tất cả đều do những người lănh đạo cộng sản gây nên, nhân danh học thuyết của 2 ông trông có vẻ hiền lành nói trên.
Dân Việt Nam ta chết oan chết uổng, được ghi danh để lưu niệm tại đài kỷ niệm nạn nhân cộng sản trên đây không ít đâu. Đó là 24.000 trung nông yêu nước bị đảng chụp mũ là cường hào ác bá theo lệnh của chuyên gia cải cách ruộng đất phái viên của “Bác Mao” để bị xử bắn, những nạn nhân của cải tạo công thương nghiệp, những “tội phạm” phi lư trong các vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” và “Xét lại chống đảng”, những đảng viên Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân bị chụp mũ lả Việt gian…
Và c̣n hàng triệu thanh niên và đồng bào hy sinh trong cuộc chiến tranh mê muội huynh đệ tương tàn, nhân danh đấu tranh ư thức hệ, đặt giai cấp lên trên dân tộc. đặt đảng đứng trên dân, đứng ngoài luật pháp.
Ngay trong ngày đầu khai mạc, nh́n vào hội trường, nghe tóm tắt các văn kiện, nghe lặp đi lặp lại về chủ nghĩa Marx-Lenin bách chiến bách thắng, nghe nói đi nói lại mấy chục lần về chủ nghĩa xă hội, từ “định hướng xă hội chủ nghĩa”, “con người mới xă hội chủ nghĩa”, “pháp lư xă hội chủ nghĩa” đến “đạo đức xă hội chủ nghĩa”…là đă có thể cảm thấy rơ nguy cơ cho đất nước ta và nhân dân ta là nghiêm trọng đến mức nào.
Chẳng lẽ trong Đại hội XI này, không ai biết rằng Nghị viện châu Âu đă ra nghị quyết lên án chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xă hội Mác-xít hiện thực, coi đó là Tội Ác viết hoa - Tội Ác chống nhân loại - quyết không để xuất hiện trở lại ở châu Âu.
Vậy là Bộ Chính trị khóa X đă ép 1377 đại biểu Đại hội XI phải xắn quần lội ngược ḍng thác văn minh của thời đại, dù cho các vị không thể không biết rằng ḍng thác tiến hóa văn minh ấy đă cuốn băng chủ nghĩa Marx và học thuyết Lenin xuống vực thẳm của lịch sử nhân loại từ hơn 20 năm nay. Cái chủ nghĩa và học thuyết phi nhân tính ấy đă tan tành, rữa nát thành bụi rác bèo bọt trong tâm tư của loài người hiện tại. Nay sao lại bắt nhân dân ta ca ngợi sùng bái những bèo bọt ấy!
Chắc các vị cũng thừa biết tượng của Karl Marx trước kia đâu đâu trong các nước “xă hội chủ nghĩa” mà chả có, nay không c̣n thấy đâu nữa, và cảnh buộc dây xích để hạ đổ tượng 2 vị ấy đă trở nên quen thuộc trong các bộ phim tư liệu lịch sử, để gợi lên sự sàng lọc nghiêm minh và khe khắt của nền văn minh nhân loại.
Đại hội XI mới trải qua ngày đầu tiên. Quang cảnh pḥng họp với chân dung 2 nhân vật đă được lịch sử phán xét cũng như 2 kinh nghiệm quan trọng nhất trong 5 năm qua là “nắm vững chủ nghĩa Marx-Lenin” và “kiên định định hướng xă hội chủ nghĩa” làm cho nhiều nhà quan sát giật ḿnh ngỡ ngàng, và lo lắng cho đất nước và nhân dân ta.
Để xem trong những ngày tiếp, có đại biểu nào ngay thật nói lên suy nghĩ lành mạnh b́nh thường của ḿnh, chỉ ra những sai lầm nguy hiểm, hay vẫn chỉ toàn là phụ họa, ca tụng xuôi chiều, để tiếp tục cưỡng bách dân ta quàng những chiếc gông Marx-Lenin và chủ nghĩa xă hội vào cổ, lội ngược ḍng thác văn minh của nhân loại.
Tôi rất thận trọng, đắn đo, cố dùng chữ nghĩa cho chính xác, tránh dao to búa lớn; tôi cho rằng quả thật đang có sự cưỡng bách và áp đặt Cương lĩnh, đường lối, Chiến lược có nhiều sai lầm nguy hiểm cho nhân dân ta qua Đại hội XI này, và h́nh ảnh lội ngược ḍng thác văn minh của nhân loại là h́nh ảnh thích hợp với sự thật, cần báo động gấp cho toàn thể đồng bào thân yêu.

BẮC KINH " HIỆN ĐẠI HÓA" TRUYỀN THỐNG XÂM LƯỢC.
TRƯƠNG MINH H̉A.
Vùng đất rộng lớn hàng thứ 3 trên thế giới trong khu vực Đông Á được thành h́nh với nước Trung Hoa ngày nay, với dân số đông nhất thế giới, là kết quả của một quá tŕnh hơn 4 ngàn năm lịch sử chiến tranh triền miên giữa các tiểu quốc, sự kiện" cá lớn nuốt cá bé" được xem là qui luật tất yếu thời xưa; với bộ tộc Hán hùng mạnh chiếm đa số, lần lượt nuốt gọn các nước nhỏ, đồng hóa các sắc tộc, do đó trong lịch sử lập quốc Trung Hoa có những thời kỳ loạn ly như: Đông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc, Hán Sở tranh hùng.....Người Hán có truyền thống thôn tín các nước khác, đồng hóa và biến thành lănh địa là điều đă xảy ra trong lịch sử. Tuy nhiên chủ nghĩa bành trướng lănh thổ bị dừng lại khi đụng phải những thế lực đề kháng mạnh mẻ, hay nhờ vị trí thiên nhiên với các rặng núi cao hiểm trở vùng Hy Mă Lạp Sơn với các sắc tộc chung quanh như Ấn Độ, A Phú Hăn, Mông Cổ, Nga, phía Nam có Việt Nam, Lào...
Tuy nhiên các nước trong vùng Biển Đông cũng thường bị Hán Tộc ḍm ngó, câu chuyện vua Tần Thủy Hoàng cử người đi t́m thuốc trường sinh, rồi không t́m được, sợ bị vua giết mà ở lại luôn vùng hải đảo Phù Tang, tức là nước Nhật Bổn cũng là ḍng Hán Tộc đấy. Cái tên nước Trung Hoa chứng minh ḍng Hán Tộc luôn tự hào về dân tộc ḿnh, họ tự xem là cái rốn vũ trụ, là văn minh nhân loại, c̣n các dân tộc khác đều là thứ" man di, mọi rợ". Người Hán có sức đồng hóa mảnh liệt, cái gương của Mông Cổ xâm chiếm nước Trung Hoa, cai trị từ năm 960 đến 1279, từ đó Mông Cổ suy yếu, trở thành bóng mờ sau thời kỳ vàng son Thành Cát Tư Hăn, sau khi bị nhà Minh, thuộc Hán Tộc giành lại chính quyền, với thời gian trị v́ khá dài từ 1368 đến 1644. Người Kim thực hiện giấc mộng ngàn đời của tổ tiên sau cuộc chinh phạt thành công của vua Càn Long, lập nên nhà Man Thanh, rồi sau đó, người Kim bị đồng hóa, đất Măn Châu sát nhập vào nước Trung Hoa. Thời kỳ đứng dậy của Hán Tộc đánh lại quân Măn Thanh liên tục với các trung thần nhà Minh qua chiêu bài" phản Thanh phụ Minh" sau đó Tôn Dật Tiên thành công qua cuộc cách mạng 1911, trải qua vài khủng hoảng chính trị, kế tiếp là chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng do thống chế Tưởng Giới Thạch điều hành đất nước, nhưng từ 1928 đến 1949 là cuộc chiến Quốc Cộng kéo dài, kết quả họ Tưởng phải khăn gói sang hải đảo Đài Loan, ngậm ngùi trong uất hận, nhưng cũng c̣n đất sống" Đài Loan hải đảo, vạn đại dung thân".
Cuộc xâm lược bằng vũ lực cuối cùng của người Hán do chính quyền Cộng Sản với sự lănh đạo của Mao Trạch Đông vào năm 1950, nước Tây Tạng bị mất và dần dần đồng hóa do số di dân từ Trung Hoa sang càng đông, nên những người Tây Tạng lưu vong quan ngại cho nền văn hóa Phật Giáo bị hủy diệt trong tương lai không xa. Sau đệ nhị thế chiến, chủ nghĩa Cộng Sản trở thành đại họa cho thế giới, đó là thời kỳ chiến tranh lạnh kéo dài đến khi đế quốc đỏ Liên Sô sụp đổ vào năm 1991. Thời kỳ chiến tranh lạnh, chủ nghĩa bành trướng, xâm lược Hán Tộc tạm thời dừng lại v́ thế giới đi vào trật tự với mái nhà chung là tổ chức Liên Hiệp Quốc, cuộc chiến tranh Triều Tiên là đ̣n dằn mặt bọn xâm lược, chính Trung Cộng phải trả giá cao về nhân mạng với hơn 1 triệu Hồng Quân, trong đó có cả đứa con trai lớn của Mao chủ tịch. Với trật tự thế giới, các nước Âu Mỹ hùng mạnh cả quân sự lẫn kinh tế đă làm chùng bước xâm lược của Hán Tộc. Mặt khác nước Trung Cộng chưa đủ mạnh, đang bị bao vây bởi thế giới Tự Do, do Hoa Kỳ lănh đạo.
Tại các nước từng bị Hán Tộc xâm lược, đô hộ như Việt Nam, người dân bị nhồi nhét những luồn tư tưởng Khổng, Lăo, văn hóa, tập quán và họ mang cả thần linh sang để đồng hóa theo sách lược" tầm ăn dâu". Theo tác giả Nguyễn Văn Xuân trong quyển Phong Trào Duy Tân, do nhà xuất bản Lá Bối in lần thứ nhất nam 1970 tai Saigon có đoạn viết về khía cạnh kinh doanh, được lồng vào tư tưởng đạo lư:" Lối buôn bán của người Trung Hoa, bên trong th́ róc cả xương thịt của chúng ta, nhưng bên ngoài th́ thật hợp đạo Khổng, Mạnh: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Chính họ góp phần rất lớn trong việc đưa Khổng Giáo và Phật Giáo vào Nam Hà, kể cả các vị Cao Tăng, rồi một số Cao Tăng ở hẳn lại đây....Nhưng họ chỉ giúp ta học, ta thi, ta tu hành mà không bao giờ giúp ta những kiến thức và phương tiện kinh doanh..". Trong những tư tưởng ăn sâu vào tiềm thức dân tộc bị trị, trở thành tập quán là" Thái độ người quân tử" qua đạo Khổng, được nhiều người hiểu một cách máy móc là" không đánh người dưới ngựa". Đây là lối nhồi sọ của các quan lại, đoàn quân xâm lược, di dân từ Trung Hoa sang, thâm ư của họ là:" khi ngộ thua, nị nên đối xử theo lượng quân tử, tức là đừng đánh người thua, tha cho ngộ về Tàu, hay khoan dung cho ngộ ở lại đây lập nghiệp, làm ăn". Thật ra thái độ quân tử cốt lơi của Hán Tộc là: ẩn nhẩn chờ thời, phải biết thời cơ để hành động như binh thư Tôn Tử với ba yếu tố" thiên thời, địa lợi, nhân ḥa". Nhản nhản tư tưởng quân tử Tàu nầy, được t́m thấy trong các tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung: Người quân tử phải biết phục thù, khi bị kẻ thù ám hại, lúc yếu thế lẫn tránh, ẩn thân, biệt tích giang hồ, rèn luyện vơ công, t́m bí kíp, có khi đợi đến đời con cháu mới rửa thù; tuy nhiên cái thứ Ngụy Quân tử như Nhạc Bất Quần là không được tôn kính trong cách cư xử hành hiệp. Người Hán kiên nhẩn nằm chờ thời, lúc thuận tiện ra tay, bằng chứng là vào cuối năm 1949, sau khi" giải phóng toàn bộ" lục địa, chủ tịch Mao Trạch Đông tưởng ḿnh là" đại cao thủ, vơ lâm, công lực thâm hậu" trong thế giới Cộng Sản, nên sang Nga để hội kiến với " đồng chí" lănh đạo" thân thương vĩ đại" là Stalin. Tuy nhiên Mao không được tiếp xúc, phải nằm chờ 2 tháng ở Mạc Tư Khoa, cố nài nỉ được gặp mặt, nhưng bị từ chối. Cuối cùng Mao đành nuốt hận, ẩn nhẩn ra về trong cái nhục, nên từ đó t́nh ĐỒNG CHÍ được Mao biến thành Đ̀ CHỐNG nhau, mối hiềm khích kéo dài, tạo thành sự khủng hoảng trong khối Cộng Sản sau khi Mao đủ mạnh để đương đầu, tranh nhau giành thế lực trong khối chư hầu, tḥ bàn tay lông lá giúp các phong trào Cộng Sản thân Mao nhiều nơi, có lúc dàn quân ở biên giới Nga-Hoa.
Quân tử Tàu Mao Trạch Đông ẩn nhẩn chờ thời, cố tiêu diệt những kẻ thù trong nội bộ qua các cuộc thanh trừng nhuộm máu: bước tiến nhảy vọt, trăm hoa đua nở, đại cách mạng văn hóa....và bên ngoài cố vùng lên, rèn luyện vơ công. May mắn là Trung Cộng biết lợi dụng" thế chiến lược toàn cầu" của Độc Cô Cầu Bại Hoa Kỳ trong" tương kế tựu kế", tạm thời làm ḥa với" ngụy quân tử hay quân tử Dỏm Henry Kissinger" và chưởng môn phái Cờ Hoa Richard Nixon; nên mới có chuyến thăm viếng đầu tiên năm 1972 ở Bắc Kinh. Từ đó Mao được" giải huyệt" qua việc" xă cấm vận", ngoài ra c̣n được Độc Cô Cầu Bại chỉ dẫn vài bí kíp" kinh tế thị trường", rồi b́nh thường hóa quan hệ, qui chế tối huệ quốc, tức là công lực được phục hồi, gần đây được chính thức cho" gia nhập giang hồ" trong tổ chức WTO....sau khi Mao qua đời vào năm 1976, nước Trung Cộng trải qua một cuộc tranh quyền của nhóm bà vợ Mao là Giang Thanh, cuối cùng cao thủ Đặng Tiểu B́nh lên làm" chưởng môn", được biết họ Đặng cũng biết áp dụng lối hành xử quân tử Tàu chánh cống, từng bị Mao cho đi tù cải tạo, qú gối nhục nhả trên đường phố trong thời đại cách mạng văn hóa. Sau đó âm thầm rèn luyện vơ công, lúc thời cơ thuận tiện là nhảy vào chính trường. Đặng Tiểu B́nh biết" dùng sức người làm sức ḿnh", lợi dụng tối đa vơ công của Độc Cô Cầu Bại Hoa Kỳ, tung ra chiêu" bốn hiện đại hóa" với câu nói thời danh:" mèo trắng mèo đen không thành vấn đề, miễn là bắt được CHUỘT". Tuy nhiên, con mèo Trung Cộng không BẮT CHUỘT như bí kíp của họ Đặng truyền dạy, trái lại họ BẮT CHƯỚC thật tinh vi, ăn cắp kỷ thuật, chế hàng giả, hàng nhái với nhản hiệu MADE IN CHINA, tung ra thị trường bán rẻ, khiến Độc Cô Cầu Bại và các nước Âu Châu bị mất hàng trăm tỷ huê lợi hàng năm. Ngoài truyền thống xâm lược xứ người để đồng hóa, Hán Tộc cũng có truyền thống" ăn cắp" phát minh, sản phẩm trí tuệ, tức là họ có khả năng biến của người thành của ḿnh một cách" sáng tạo, tài t́nh" như làm hàng giả vậy; môn vơ Thiếu Lâm nổi danh thế giới với chùa Thiếu Lâm tọa lạc ở núi Tùng Sơn, tỉnh Hà Nam, tưởng đâu là của người Trung Hoa, nhưng thật ra là của Đức Bồ Đề Đạt Ma khai sáng, thành lập từ năm 496, Ngài là người thuộc một nước nhỏ ở Ấn Độ, tương truyền lúc Bồ Đề đạt Ma sang với mục đích truyền bá đạo Phật, sau khi bỏ công 3 ngày thuyết pháp với triều đ́nh nhà Tấn, rồi thất vọng khi thấy vua, quan không thể hấp thụ được. Ngài bỏ về núi, ngồi 9 năm qua mặt vô vách, cuối cùng t́m ra chân lư là: người Hán thích đánh nhau, nên dạy vơ công là hàng đầu, lợi dụng vơ công để truyền bá đạo pháp. Nghe đâu Kinh Dịch cũng do người Việt sáng tạo và bị Tàu nhận dùm tác quyền? Đạo khổng là của Tàu, nhưng nghe đâu Lăo Tử là người nước Việt...tuy nhiên, người Hán được công nhận là dân tộc đầu tiên phát minh ra thuốc súng, năm 1232, họ biết dùng thuốc súng làm pháo thăng thiên, nhưng chỉ để giải trí, lễ lạc thôi; những nhà thám hiểm Âu Châu như Marco Polo sang, mang sang kiến nầy về để làm ra súng đạn và thời kỳ thuộc địa mang qua đánh chiếm, cắt nước Trung Hoa thành nhiều mảnh, đúng là" giáo Tàu đâm Chệt!", c̣n món Ḿ, không biết Ư hay Tàu phát minh ra trước, tuy nhiên triết học Karl Marx khi sang Trung Quốc được biến thành chủ nghĩa Maoist, cũng là ăn cắp của người làm của riêng ḿnh. Môn Châm cứu cũng thuộc Hán Tộc, có lịch sử ly kỳ, xuất phát từ các cuộc sát phạt nhau giữa các nước, thời Tần Thủy Hoàng, vào khoảng 200 trước Tây lịch, một số binh sĩ bị bịnh trước khi ra trận, bị trúng tên. Nhưng khi mang về, nhổ mũi tên ra, tự nhiên các chứng bịnh hết một cách kỳ lạ, từ đó người Hán mới khám phá ra huyệt đạo, châm cứu; dụng cụ ban đầu chỉ là những cây kim làm bằng xương thú, sau làm bằng kim loại. Như vậy châm cứu cũng xuất phát từ các cuộc" xâm lược" mà ra thôi.
Sau năm 1972, Trung Cộng học được rất nhiều" vơ học tinh hoa" từ các đại cao thủ Hoa Kỳ, Âu Châu.... đặc biệt là được chưởng môn Bill Clinton thân mật gọi là" bạn hàng hợp tác", sau khi chưởng môn George.W.Bush lên thay, giựt ḿnh v́ biết người tiền nhiệm đă lầm trao bí kíp cho ma đầu giáo chủ, bèn đổi cách gọi là" bạn hàng cạnh tranh". Nhờ Kissinger mở đường, sau có Bill Clinton tận t́nh truyền thụ những bí kíp, trong đó có cả bí mật quốc pḥng với hệ thống định vị toàn cầu nên Trung Cộng càng phát triển, công lực càng thâm hậu. Nhờ biết" mượn đầu heo nấu cháo" và biết cách bán hàng theo lối" treo đầu heo, bán thịt chó" nên Trung Cộng ngày nay trở thành con cọp đói kinh tế, tiêu xài nhiều nhiên liệu, cạnh tranh ráo riết, bán hàng rẻ, nhân công rẻ với Hoa Kỳ, Liên Âu. Những tiến bộ của Trung Cộng được Độc Cô Cầu Bại Hoa Kỳ giựt ḿnh, ảnh hưởng Trung Cộng khá lớn, phóng vệ tinh có người lên quỷ đạo, có khả năng bắn rớt các vệ tinh sau cuộc thí nghiệm thành công, chưa kể đến kho bom nguyên tử...ngoài ra chính Độc Cô Cầu Bại Hoa Kỳ cũng thiếu nợ Trung Cộng, nền kinh tế tăng trưởng, ngân sách quốc pḥng gia tăng, đe dọa nhiều nước trong khu vực. Ngày nay Trung Cộng xuất đầu lộ diện là" đại ma đầu", nên truyền thống" xâm lược" bắt đầu sống lại sau nhiều thập niên" nằm mai phục chờ thời" qua thái độ của một quân tử Tàu đúng nghĩa. Trung Cộng ngang ngược vẽ lại bản đồ biển Đông, vói dài cánh tay lông lá tận các hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Họ bành trướng quân sự, nhất là Hải Quân, dùng kinh tế bức ép, lần lần chiếm đất đai, bành trướng ảnh hưởng. Từ năm 1958, lợi dụng bản chất" vong bản, tay sai" của tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lănh đạo, Trung Cộng" gợi ư" cho đảng làm ra văn kiện ngoại giao do chính thủ tướng Phạm Văn Đồng kư tên, công nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng ( tức là vùng nầy thuộc về Việt Nam Cộng Ḥa, nhưng Đồng bán đứng, không cần biết ai là chủ quyền, đúng là thằng điếm thúi), nên sau nầy Trung Cộng lấy văn kiện đó như tài liệu pháp lư để tiếp tục duy tŕ một phần hải đảo. Lợi dụng lúc Cộng Sản Việt Nam suy yếu, bơ vơ sau khi quan thầy Liên Sô sụp đổ, Trung Cộng gây áp lực để Hà Nội kư văn bản dời cọc móc biên giới, làm mất hàng ngàn cây số vuông đất tổ tiên, mất luôn di tích Ải Nam Quan, Bản Giốc...và vùng biển cũng bị nhường cho Tàu, nên ngư dân Việt Nam thường bị hải quân Trung Cộng bắn chết, bắt mang về Tàu, gây bất nhẩn cho dân chúng, thế mà Việt Cộng vẫn" kiên nhẩn" im hơi, hay lên tiếng rất nhẹ nhàng, trong khi đảng ra sức đàn áp thẳng tay các phong trào dân chủ, nghiệp đoàn, các nhà đối kháng ôn ḥa trong nước. Như vậy Việt Cộng là tập đoàn" khôn nhà dại chợ, thượng đội hạ đạp", là lũ người hèn hạ, tiểu nhân, tàn bạo, không thể đại diện cho nước Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Asian, Apec... hay được các nguyên thủ cường quốc như Hoa Kỳ, Liên Âu đón tiếp như khách; đáng lẽ ra đám Việt Cộng nầy phải bị" c̣ng tay" và được chào đón ở ṭa án quốc tế tại Geneve để trả lời những tội diệt chủng, vi phạm nhân quyền, khủng bố. Trung Cộng muốn gom cả thế giới vào tay, nên gần đây, đảng và nhà nước chỉ đạo cho các nhóm khoa học gia, nhân chủng học, đưa ra lư thuyết về" NGƯỜI BẮC KINH", họ viện dẫn lư do là thời cấm vận lúc Mao Trạch Đông lănh đạo, thế giới không thể vào Trung Hoa để t́m hiểu, nên họ đổ vào Phi Châu, nên mới đưa ra giả thuyết về loài người đầu tiên xuất hiện ở đây. Những nhà khoa học, nhân chủng học cũng đào xới, mang những bộ xương, đầu lâu...nhằm chứng minh: Người Bắc Kinh tại vùng Hoàng Hà, đây mới đúng là thủy tổ loài người, xuất hiện từ 500 ngàn năm đến một triệu năm qua, tức là nước Trung Hoa là cái nôi thế giới đấy!
Chủ nghĩa Đại Hán vùng dậy, là nguy cơ mới cho nhân loại, trước đây v́ theo làm tay sai cho Liên Sô nên đảng Cộng Sản Việt Nam mới dám đương đầu với" bọn lưu manh bành trướng Bắc Kinh với mộng bá quyền", nổi bật là cuộc chiến biên giới xảy ra năm 1978, đây không phải là cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, nhưng chỉ nhằm phục vụ quyền lợi của đảng và ngoại bang Liên Sô mà thôi. Ngày nay Trung Cộng không thể dùng giải pháp quân sự để thực hiện truyền thống xâm lược của tổ tiên bằng vũ lực, nhưng họ khôn ngoan, biết lợi dụng công pháp quốc tế, chiếm dần đất đai các nước lân bang bằng GIẤY; đó là các hiệp ước biên giới, trên biển, hải đảo được đảng Cộng Sản Việt Nam đơn phương đàm phán với Trung Cộng, thay v́ đàm phán chung với các nước tranh chấp, đây là" ly gián kế" chẻ từng cây đũa một để cuối cùng bẽ gảy hết bó. Mặt khác tài phiệt Trung Cộng ( gốc là cán bộ đảng) âm thầm xâm nhập nhiều nước như Thái Lan, Lào, Miên, Việt, Miến Điện....họ mang hàng hóa ( chính thức hay nhập lậu từ các cửa khẩu biên giới) tác động vào đời sống dân chúng, xă hội, chính quyền. Bằng chứng là Việt Nam đi t́m những thị trường may mặc ở Hoa Kỳ, Âu Châu, th́ hàng may mặc, các thứ của Trung Cộng tràn ngập thị trường nội địa càng nhiều, nên hiện tượng dân chúng đưa nhau học tiếng Tàu, song song với tiếng Anh, làm cho những người c̣n nghĩ đến đất nước lo ngại. Tập đoàn Cộng Sản Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của" thiên triều Bắc Kinh", tất cả các cuộc bần bán để chọn nhân sự lănh đạo, đều có Trung Cộng can dự, sắp xếp, áp lực. Một ngày nào đó, Trung Cộng mua đứt cả trung ương đảng bằng quyền lợi" đảm bảo" cho các quan chức qua số tiền thưởng lớn, tài sản ở nước ngoài, nên đảng Cộng Sản với đa số là người thân Trung Cộng, họ được chỉ đạo mở cuộc" trưng cầu dân ư" như ở Đông Timor.... đảng bắt dân đi bầu để quyết định" đồng ư sát nhập vào lănh thổ Trung Cộng" để biến nước ta trở thành một quận lỵ hầu hưởng quyền lợi, qui chế hay những chiêu bài mị dân khác....lúc đó th́ t́nh h́nh nguy ngập, khi mà số phiếu đồng thuận sát nhập thành nước Tàu có khả năng hơn 90% trở lên như các cuộc bầu cử với công thức" đảng cử dân bầu". Tới chừng ấy, th́ nước Việt Nam sẽ mất trên bản đồ thế giới, dù h́nh thức vẫn được hưởng qui chế tự trị như Hồng Kông, công thức nầy Trung Cộng đang ru ngủ Đài Loan, có thể áp dụng tại nhiều nước khác, không loại trừ Việt Nam, đây là điều nguy hiểm vô cùng, Liên Hiệp Quốc cũng bó tay, họ không thể can thiệp v́ đây là" quyền dân tộc tự quyết" là vấn đề nội bộ của một nước qua h́nh thức bầu cử dân chủ rơ ràng. Truyền thống xâm lược muôn đời của gịng Hán Tộc không thay đổi, dù sông có thể cạn, núi có thể ṃn; tuy nhiên họ áp dụng uyển chuyển tùy theo t́nh h́nh, thời kỳ: ngày xưa họ chiếm nước khác bằng gươm dáo, súng đạn; th́ ngày nay họ chiếm đất BẰNG GIẤY, chính là các hiệp ước, hiệp định do một thiểu số cầm quyền, v́ đặt quyền lợi cá nhân, bè đảng lên trên quyền lợi đất nước, nên Trung Cộng mới có điều kiện chiếm đất, đồng hóa. Ngày nay biên thùy phía Bắc đă mất nhiều đất, biển, hải đảo cũng chung số phận, trong tương lai, tập đoàn Cộng Sản Việt Nam sẽ c̣n bán đất, dâng vùng biển để đánh đổi quyền lănh đạo của đảng, đó là nguy cơ trước mắt, nếu toàn dân không đứng dậy làm cuộc cách mạng càng sớm càng tốt, lôi cổ bọn bán nước, hại dân xuống, th́ tai họa mất hết quê hương ắt sẽ đến.
Trung Cộng muốn làm bá chủ thế giới, họ cũng" tri bĩ, tri kỷ", lợi dụng dân đông nhất thế giới, nhân công rẻ, sản xuất nhiều, dùng hàng hóa bán rẻ, cạnh tranh ráo riết với các nước tư bản. Họ dùng" kinh tế chỉ huy" với vốn nhà nước để tấn công bào kinh tế tư bản. Ngày nay tạm thời dùng cái đầu tàu" kinh tế thị trường" để kéo cái đuôi" xă hội chủ nghĩa" trong" tŕ hoăn kế", đến khi cái đuôi chủ nghĩa xă hội đủ sức, sẽ quật ngược, thay đầu tàu kinh tế thị trường. Đối với các nước lớn, Trung Cộng dùng áp lực kinh tế, quan hệ ngoại giao qua yếu huyệt của các nước Tây phương" không có bạn thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi quốc gia", nên nhà cầm quyền Bắc Kinh có khả năng làm câm miệng các cường quốc. Đó là nguy cơ của các nước nhỏ nằm cạnh, hay trong khu vực ảnh hưởng của Trung Cộng, trong đó có nước Việt Nam.

Trung Quốc trong cái nh́n của một người Việt Nam
Sau nhiều năm dài thi hành một chính sách ngoại giao khôn khéo, chỉ tập trung vào chuyện lo làm giàu cho đất nước và cố gắng xây dựng h́nh ảnh “trỗi dậy một cách ḥa b́nh không ảnh hưởng ǵ đến trật tự của thế giới”, có vẻ như 2010 là một năm thất bại của Trung Quốc về mặt ngoại giao khi hàng loạt cách hành xử của Bắc Kinh đă khiến cho thế giới kịp thời nhận ra sự hung hăng, hiếu chiến, chỉ làm theo ư ḿnh của quốc gia này trên phương diện quan hệ quốc tế. Và kể từ bây giờ trở đi, chắc chắn nhiều nước sẽ tỏ ra thận trọng, cảnh giác cao với Bắc Kinh. Có thể nhận thấy điều đó qua sự điều chỉnh trong chính sách ngoại giao hoặc quốc pḥng của nước này nước khác, từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ cho tới các nước Đông Nam Á.
Trong khi đó, từ lâu nay, với vai tṛ là cường quốc số một, lănh đạo thế giới, tất nhiên, Hoa Kỳ bị nhiều quốc gia khác “ghét”. Tại một số nước ở Châu Âu hay các nước Hồi giáo ở Trung Đông chẳng hạn, nhiều người dân khi được hỏi đă nói thẳng là họ không thích nước Mỹ, không thích người Mỹ. Các quốc gia Bắc Âu có lẽ cũng chẳng thiện cảm ǵ nhiều với Mỹ. Ngay ở Na Uy, quốc gia mà tôi đang sống, theo cảm nhận của tôi, nhiều người dân tỏ ra không thích thú ǵ vai tṛ lănh đạo thế giới của Mỹ cũng như chế độ tư bản và sự cạnh tranh khốc liệt trong đời sống xă hội Mỹ, ngược lại, đối với Trung Quốc, phần lớn cũng không hiểu rơ về quốc gia này. Dù có biết về chế độ độc tài và “thành tích” nhân quyền của nhà nước Trung Quốc, điều đó không ngăn cản nhiều người Na Uy ngưỡng mộ Trung Quốc về nhiều thứ: một quốc gia khổng lồ, một nền văn hóa lâu đời, sự phát triển thần kỳ trong hơn 3 thập niên qua …Tuy nhiên, khi xảy ra câu chuyện về giải Nobel Ḥa B́nh năm nay và những phản ứng gay gắt quá đáng của chính quyền Bắc Kinh đối với Na Uy, những người lănh đạo Trung Quốc không biết rằng họ đă làm cho người dân Na Uy kinh ngạc và không thể hiểu nổi. Tôi đă nghe một số người Na Uy khi nói về điều này cứ lặp đi lặp lại câu: “Tại sao Trung Quốc lại phản ứng như vậy? Sao họ không chịu hiểu Ủy ban trao giải là một tổ chức hoạt động độc lập, nếu có ghét th́ ghét cái Ủy ban trao giải, chứ sao lại đổ lỗi cho chính phủ Na Uy và làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước?” Hoặc: “Tại sao họ lại không để cho ông Lưu Hiểu Ba đến nhận giải? Việc ông ấy đến nhận giải th́ có sao đâu?” Tôi phải giải thích với họ đây rơ ràng là chuyện hai bên không hiểu nhau v́ hai chế độ, hai xă hội quá khác nhau, rằng ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, nhà nước kiểm soát tất tần tật mọi thứ, nên những người lănh đạo Trung Quốc không hiểu được và cũng không thể chấp nhận việc có một Ủy ban, tổ chức nào đó lại có thể hoạt động độc lập với chính quyền mà chính quyền lại chịu, không thể can thiệp vào công việc của họ như vậy! Song rơ ràng là qua câu chuyện này, Trung Quốc đă tự làm “mất điểm” trong mắt nhiều người dân Na Uy.

Thành phố Thượng Hải (Shanghai). Nguồn: ccisabroad.org
 
Một lần khác, tại ngôi trường dạy tiếng Na Uy dành cho người nước ngoài mà tôi đang theo học, một học viên người Palestine đă bày tỏ sự khâm phục đất nước Trung Quốc và nói với tôi, anh ta tin rằng Trung Quốc đang theo đuổi một mô h́nh xă hội rất đáng cho nhiều nước trên thế giới học tập, rằng nền dân chủ của Trung Quốc khác với phương Tây và sẽ ngày càng dân chủ hơn, rằng sự lớn mạnh của Trung Quốc không đe dọa gỉ đến thế giới cả v.v. và v.v…Tôi chỉ nhẹ nhàng trả lời, rằng nếu muốn biết sự thật về Liên Xô cũ, hăy hỏi dân Ba Lan-Ba Lan là một trong những dân tộc có nhiều kinh nghiệm cay đắng nhất với Liên Xô; c̣n nếu muốn biết rơ hơn về Trung Quốc, hăy hỏi người Việt Nam chúng tôi. Và hăy tin người Việt Nam chúng tôi là v́ chúng tôi ở sát cạnh Trung Quốc hàng ngàn năm nay và cũng có nhiều kinh nghiệm đắng cay không kém!
Tôi không phải là một người “bài” Hoa. Không phải cái ǵ của Trung Quốc tôi cũng ghét. Ngược lại, tôi cũng rất ngưỡng mộ nền văn hóa dày dặn lâu đời của Trung Quốc, thích nhiều tác giả văn học, thi ca cổ và hiện đại, thích hội họa Trung Quốc và trong danh sách những đạo diễn yêu thích của tôi có Trương Nghệ Mưu (Zhang Yimou), Trần Khải Ca (Kaige Chen), Vương Gia Vệ (Wong Kar Wai-Hongkong)…Nhưng tôi không chịu được cái mô h́nh thể chế chính trị của quốc gia này cũng như mô h́nh thể chế chính trị của chính đất nước tôi hiện tại, tôi càng không chịu được cách hành xử của các vua chúa Trung Hoa đối với Việt Nam thời xưa cho tới các thế hệ lănh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam bây giờ.
Và tôi tin rằng nhiều người Việt Nam cũng có cảm nhận như vậy.
Kể cũng lạ. Là một quốc gia đă từng phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh với những “kẻ thù” khác nhau trong quá khứ, nhưng có một điều phải nhận thấy, cho đến giờ phút này, đối với phần lớn người Việt Nam, tại sao họ không “ghét” Tây, “ghét” Nhật, “ghét”Mỹ mà lại “ghét” Tàu đến thế?
Xin nói ngay rằng tôi không phải là người đầu tiên đặt ra câu hỏi này. Ít nhất đă có nhà thơ Đỗ Trung Quân tức blogger Chung Do Kwan trong bài “Ngổn ngang vui buồn” đă từng tự hỏi: “tại sao người Việt không bài Tây ,bài Mỹ mà bài Tàu đến thế.từ trong tiềm thức?” Và đă tự trả lời:
Cả ngàn năm Bắc thuộc.người Tàu [ Trung Quốc] chỉ có đồng hóa mà không bao giờ khai hóa..người Tàu đốt sách từ thời Tô Định.xóa bỏ phong tục tập quán ,bắt theo phong tục của họ.gọi dân tộc phía Nam Thái B́nh Dương tất thảy là “Nam Man” mọi rợ cả.
-người Việt nói riêng chống lại không phải văn hóa Trung Quốc mà là chống lại sự ngạo mạn của trung quốc. coi dân tộc khác là man di tất thảy.chính sách,cái nh́n đó chưa từng khác đi đến tận hôm nay
Trung Quốc không khai hóa.kẻ khai hóa chúng ta lại là kẻ thực dân chúng ta.người Pháp vẫn dạy học ,mở trường.phong trào Đông Du không từ Trung Quốc.chống lại người Pháp không ai khác chính là những người hấp thu nền Tây học: Phan Chu Trinh,Vơ An Ninh,Nguyễn Ái Quốc,Phạm văn Đồng,Trường Chinh,Vơ Nguyên Giáp….
…Khai hóa ,mang chữ và văn minh đến cho người Việt để chính người Việt hiểu ra ḿnh là kẻ bị trị.cầm súng đứng lên đánh đuổi chính kẻ khai hóa lẫn kẻ thực dân nước ḿnh.chỉ có thể là người Pháp.không bao giờ là Trung Quốc- kẻ chỉ muốn đồng hóa,ngu dân.học hành ,thi cử ,đỗ đạt kiểu Trung Quốc mục đích cuối cùng chỉ để làm quan.không phải để hiểu thân phận kẻ bị trị.
Nếu nh́n lại cách hành xử của các vua chúa Trung Hoa đối với các quốc gia láng giềng từ thời xa xưa cho đến cách hành xử của chính quyền Trung Quốc trên phương diện quan hệ quốc tế trong thời điểm hiện tại, đặc biệt đối với những quốc gia bị họ thôn tính như Tân Cương, Tây Tạng hay những quốc gia nhỏ yếu hơn đang bị họ dùng tiền và “quyền lực mềm” để thao túng về kinh tế, chính trị, văn hóa…như Lào, Campuchia, Việt Nam, thậm chí kể cả một số quốc gia ở châu Phi; người ta dễ dàng nhận thấy chính sách của Trung Quốc trước sau như một, chỉ muốn thu lợi về cho nước ḿnh, chỉ muốn lấy đi mà không cho lại, và như tác giả Chung Do Kwan đă nhận xét, chỉ đồng hóa mà không khai hóa cũng không chấp nhận sự khác biệt văn hóa của nước khác.
Tôi có biết một số người Tây Tạng. Khi đề cập đến t́nh thế của đất nước, họ đều nói rằng nếu không thể độc lập, nếu phải chọn lựa ở dưới sự “khống chế” của một quốc gia khác, họ thích chọn Ấn Độ hơn Trung Quốc. Thứ nhất v́ giữa Ấn Độ và Tây Tạng, hai nền văn hóa rất gần nhau, thứ hai v́ Ấn Độ sẽ để cho họ được bảo vệ nền văn hóa của ḿnh chứ không âm mưu đồng hóa, làm mất dần bản sắc văn hóa của dân tộc họ như là chính quyền Trung Quốc. Nhận xét này của người Tây Tạng về người Ấn Độ th́ tôi tin, v́ tôi đă từng có một thời gian sống và học tập ở Ấn. Bản chất nền triết học của Ấn Độ vốn nặng về tâm linh, giàu tính nhân văn, bên cạnh đó, tôn giáo đóng một vai tṛ quan trọng trong đời sống hàng ngày của người Ấn, (người dân Ấn hầu hết là ăn chay “triệt để” hoặc ăn chay “một phần”-có nghĩa là chỉ ăn rau hoặc có thể ăn thêm trứng hoặc có thể ăn thịt heo kiêng thịt ḅ, ăn thịt ḅ kiêng thịt heo tùy theo tôn giáo nào), do vậy người Ấn nh́n chung hiền lành, thuần hậu; đồng thời, Ấn độ cũng là một quốc gia dân chủ lớn nhất thế giới nên cũng như các quốc gia có nền dân chủ khác, người Ân nh́n chung không có thói quen áp đặt suy nghĩ, quan điểm của ḿnh với người khác.
Ấn Độ và Trung Quốc đều là những quốc gia đông dân nhất, có hai nền văn hóa lâu đời nhất châu Á và đều là những cường quốc đang lên mà theo như tiên đoán của nhiều nhà b́nh luận chính trị, tương lai thế giới sẽ thuộc về một trong hai quốc gia này. Nhưng thật ra hai quốc gia này rất khác nhau từ triết học, tôn giáo, văn hóa, thể chế chính trị, cơ cấu xă hội cho đến đường lối chính trị ngoại giao của các nhà lănh đạo và tâm tính của người dân-bởi “xă hội thế nào, con người thế ấy”. Khác với triết học Ấn Độ, triết học của Trung Hoa có tính thực dụng, dạy cho con người ra làm quan hay hành xử giữa đời chứ không phải suy tư nhiều về những vấn đề siêu h́nh. Tôn giáo, sau nhiều năm dài dưới chế độ cộng sản,chỉ c̣n đóng một vai tṛ cũng khá là thực tiễn, thực dụng trong đời sống của người dân, cộng với một thể chế chính trị độc tài, hà khắc kéo dài đă ảnh hưởng khá nhiều đến cách sống, cách nghĩ và cả tâm tính của con người. Ngay trong sự phát triển rất đáng nể của xă hội Trung Quốc vẫn thiếu vắng tính nhân văn v́ quyền lợi con người vẫn chưa được đặt lên hàng đầu.

Tại một thành phố ở Trung Quốc, bên cạnh những ṭa nhà chọc trời là khu ở chuột. Nguồn: tuoitre.vn

Một bộ phận người nghèo Trung Quốc vẫn c̣n bị bỏ bên lề sự phát triển kinh tế của nước này. Ảnh: New York Times.
Ngày nay, xă hội Trung Quốc thực chất đang đi lại con đường của chế độ tư bản thời kỳ đầu, thời kỳ man rợ, khi nhân danh sự phát triển và chỉ v́ mục tiêu tối thượng là làm giàu bằng mọi giá, chính quyền sẵn sàng bóc lột tàn tệ người lao động và những tầng lớp thấp trong xă hội đang bị hy sinh, bị gạt ra bên ngoài trong việc thụ hưởng những thành quả từ sự phát triển ấy. Một thể chế chính trị độc tài, về đối nội thực chất không khác ǵ chế độ phong kiến trước kia với quyền lực tối thượng tập trung vào “thiên triều” và người dân chỉ được nhất mực nghe theo, cấm căi. C̣n đối ngoại, Trung Quốc chẳng khác nào một anh thực dân. Hăy nh́n cách chính quyền Trung Quốc đang càn quét châu Phi, đổ tiền vào để giành lấy những dự án đấu thầu, những hợp đồng béo bở, vơ vét tài nguyên của châu lục này, không đếm xỉa ǵ đến quyền lợi của người dân lao động bản xứ hay sự ô nhiễm, tàn phá môi trường mà những công ty của Trung Quốc đang gây ra. Thế giới đă nói đến việc Trung Quốc đến châu Phi chỉ v́ quyền lợi của Trung Quốc và ngược lại, các quốc gia châu Phi sẽ được ǵ ngoại trừ những khoản tiền “hoa hồng”, hối lộ khổng lồ đút túi những kẻ có chức quyền và hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc tràn ngập khắp nơi? Điều đó cũng đang diễn ra ở Lào, Campuchia, Việt Nam…Đó là một thứ văn hóa ứng xử chỉ biết lợi cho ḿnh, chỉ biết lấy đi mà không trả lại như đă nói ở trên.
 
Không những thế, văn hóa Trung Quốc ở một khía cạnh nào đó, là một nền văn hóa có tính chất hủy diệt, tận diệt đối với một nền văn hóa khác, chứ không cùng tồn tại, phát triển và học hỏi lẫn nhau. Điều này đă được chứng minh qua lịch sử của các quốc gia bị Trung Quốc thôn tính, trong đó có cả một ngàn năm Bắc thuộc của Việt Nam.
Là một nước lớn, nhưng trong cách hành xử với thế giới và ngay cả với các nước nḥ, yếu hơn rất nhiều lần, Trung Quốc lại rất…tiểu nhân, thù vặt và thù dai. Đọc những mẩu chuyện kể của ông Dương Danh Dy, một chuyên gia về Trung Quốc, nguyên Tổng lănh sự Việt Nam tại Quảng Châu hay tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc th́ rơ. Hoặc ngay gần đây, phản ứng của Trung Quốc quanh chuyện va chạm với Nhật Bản hay chuyện giải Nobel Ḥa B́nh năm nay chẳng hạn. Đó chưa phải là cách ứng xử của một nước lớn. Nếu Trung Quốc muốn trở thành một cường quốc trên thế giới th́ chính quyền nước này c̣n phải thay đổi nhiều, học hỏi nhiều về mặt ngoại giao chứ đừng nói đến tham vọng lănh đạo toàn cầu!
Có bao giờ những người lănh đạo Trung Quốc tự đặt câu hỏi v́ sao gần đây nhiều nước lại quay sang cảnh giác đối với Trung Quốc, ngay cả những quốc gia trong khu vực châu Á mà Trung Quốc đă nhiều năm đổ biết bao công sức và cả tiền của để “mua chuộc’, tạo mối quan hệ tin cậy lẫn nhau nhưng bây giờ cũng sẵn sàng chào đón sự trở lại của Mỹ ở khu vực này và khi phải chọn lựa, nhiều nước sẽ chọn đứng về phía Mỹ chứ không phải Trung Quốc, dù trước đó có thể họ cũng không hẳn đă thích Mỹ?
Mọi người đều nói đến chuyện Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ năm, mười năm nữa. Tôi tin rằng về mặt kinh tế tính theo tổng sản phẩm quốc nội, trữ lượng ngoại tệ, hay thậm chí thu nhập quốc dân chẳng hạn, điều đó là hoàn toàn có thể. Nhưng về một số lĩnh vực khác như những thành tựu khoa học, phát minh, đặc biệt là về một cơ chế xă hội văn minh, và con người văn minh, th́ c̣n cần phải nhiều năm hơn rất nhiều.
Số phận đă đặt Việt Nam phải nằm cạnh Trung Quốc. Lịch sử đă dạy cho người Việt Nam quá nhiều bài học cay đắng từ anh láng giềng khổng lồ này. Ngay trong thời điểm hiện tại, những điều cay đắng vẫn đang diễn ra, không những thế, v́ sự bạc nhược, hèn hạ, sai lầm của nhà nước Việt Nam, chưa bao giờ đất nước và dân tộc Việt Nam phải chịu những thiệt hại nặng nề đến thế trong mối quan hệ với Trung Quốc! Điều đó lư giải v́ sao người Việt Nam lại “ghét” Trung Quốc, nói cho chính xác, “ghét” chính quyền Trung Quốc.
Tuy nhiên, chúng ta chẳng thể bê nước ḿnh đi đâu được th́ phải học cách sống bên cạnh Trung Quốc mà vẫn phát triển, vẫn giàu mạnh và không đánh mất ḿnh, điều mà một số quốc gia nhỏ bé khác đă làm được khi phải sống cạnh những quốc gia lớn mạnh hơn gấp nhiều lần. Nếu trên con đường phát triển ấy, một đảng cầm quyền đă trở thành vật cản đồng thời lại c̣n đứng về phía ngoại bang để bóp nghẹt ḷng yêu nước, chí quật cường, tinh thần phản kháng của người dân th́ đảng cầm quyền hay mô h́nh thể chế chính trị ấy cần phải bị thay thế để cứu lấy vận mệnh của đất nước, không c̣n cách nào khác!
songchi's blog

Giới chức Hoa Kỳ:
'Hợp tác là cách tốt nhất để thúc đẩy tiến bộ ở Việt Nam'

Trong chuyến thăm Việt Nam mới đây, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ phụ trách các vấn đề Kinh tế, Năng lượng và Canh nông, ông Robert Hormats, nhận xét rằng t́nh trạng nhân quyền ‘có thể khiến tiến bộ về một số lĩnh vực trở nên khó khăn hơn’ trong mối bang giao giữa hai nước. Trong cuộc phỏng vấn dành riêng cho Nguyễn Trung của VOA Việt Ngữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, ông Scot Marciel, Phó Trợ lư Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái B́nh Dương, tán đồng quan điểm của ông Hormats, đồng thời nói thêm rằng Washington sẽ ‘duy tŕ tiếp xúc và hợp tác’ với Hà Nội để giải quyết các bất đồng. Mời quư vị theo dơi cuộc trao đổi trong chuyên mục ‘Câu chuyện Việt Nam’ tuần này.
Nguyễn Trung | Washington, D.C Thứ Bảy, 24 tháng 4 2010

H́nh: Nguyen Trung - VOA
Ông Scot Marciel, Phó Trợ lư Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái B́nh Dương

VOA: Sắp tới, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ đánh dấu 15 năm hai nước chính thức b́nh thường hóa quan hệ ngoại giao. Ông đánh giá như thế nào về mối bang giao này?
Ông Scot Marciel: Chúng tôi rất hài ḷng trước cách thức mối quan hệ này phát triển. Cá nhân tôi cũng thế v́ tôi ở Hà Nội 15 năm trước, khi hai nước b́nh thường hóa toàn diện mối quan hệ và khi ấy tôi bắt đầu làm việc tại đại sứ quán Hoa Kỳ. Chính v́ lẽ đó, bản thân tôi đă chứng kiến nhiều thay đổi và cải thiện trong mối bang giao giữa hai quốc gia thời gian qua. Hai bên bắt đầu cùng nhau hợp tác và giải quyết một số ít vấn đề, và bây giờ, hai nước đă tiến hành thương thảo trong nhiều lĩnh vực.
Mới đây, khi Thủ tướng Việt Nam gặp Ngoại trưởng Hillary Clinton, tôi cũng có mặt ở đó. Họ đă trao đổi một loạt các vấn đề song phương mà hai bên có thể hợp tác với nhau như giáo dục, t́nh trạng biến đổi khí hậu, củng cố hành pháp, ngoại giao khu vực, ASEAN cũng như chăm sóc y tế. Nói tóm lại, thật vui mừng khi hai quốc gia cùng làm việc về một loạt các vấn đề.
VOA: Trong chuyến công du tới Việt Nam gần đây, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ phụ trách các vấn đề Kinh tế, Năng lượng và Canh nông, ông Robert Hormats, nói rằng các vấn đề nhân quyền ở Việt Nam có thể làm tổn hại tới mối quan hệ thương mại giữa hai nước. Ông có đồng quan điểm với ngài Thứ trưởng không?
Ông Scot Marciel: Dĩ nhiên t́nh trạng nhân quyền cùng quan ngại về các vấn đề liên quan ở Việt Nam chắc chắn ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa hai nước. Có lẽ đây cũng là vấn đề làm chậm tốc độ phát triển mối bang giao giữa hai quốc gia hơn so với tiềm năng.
Ngoài ra, vấn đề này có thể ảnh hưởng tới thương mại giữa hai nước v́ bất kỳ thỏa thuận thương mại nào giữa hai quốc gia cần phải được Quốc hội của chúng tôi thông qua, và đôi khi họ nêu lên quan ngại về t́nh trạng nhân quyền ở Việt Nam. Ngoài ra c̣n có các vấn đề khác nữa như khi chúng ta xem xét về Hệ thống ưu đăi thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences) th́ yếu tố nhân quyền không đóng vai tṛ lớn, nhưng các vấn đề như quyền lao động sẽ được xem xét theo như yêu cầu của luật pháp.
VOA: Thưa ông, một số người cho rằng Hoa Kỳ không nên trao cho Việt Nam các ưu tiên về thương mại cho tới khi Hà Nội thực sự cải thiện t́nh trạng nhân quyền và tôn giáo. Bản thân ông nghĩ sao về quan điểm đó?
Ông Scot Marciel: Ư kiến như thế này thực sự đă xuất hiện ngay từ khi Hoa Kỳ bắt đầu b́nh thường hóa mối quan hệ với Việt Nam. Tôi nghĩ rằng điều chúng tôi chứng kiến là một loạt các chính quyền, cả phe Dân chủ lẫn Cộng ḥa, ở Washington đă kết luận rằng cách thức tốt nhất để thúc đẩy tiến bộ ở Việt Nam, không chỉ về t́nh trạng nhân quyền, mà c̣n cả phát triển kinh tế và xây dựng đối tác thực sự nhằm cho phép Hoa Kỳ đề cập cũng như giải quyết các vấn đề, là tiếp xúc và hợp tác với nhau.
Ngoài ra, theo tôi, thương mại không phải là một món quà cho Việt Nam, mà nó là điều mang lại cho người dân hai nước các lợi ích cũng như thịnh vượng hai chiều. Đúng, đây là vấn đề c̣n gây tranh căi, nhưng chúng tôi vẫn duy tŕ quan điểm rằng tiếp xúc, hợp tác và thương mại là cách thức tốt nhất đề thúc đẩy quan hệ song phương.
VOA: Hăng tin Reuters gần đây có b́nh luận rằng các tái phạm về nhân quyền thấy rơ đă làm nổi lên những câu hỏi là liệu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có nên đưa Việt Nam trở lại danh sách ‘Các nước cần đặc biệt quan tâm’ (CPC) về tự do tôn giáo hay không. Phản ứng của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra sao, thưa ông?
Ông Scot Marciel: Mỗi năm, chúng tôi đều xem xét và đánh giá t́nh trạng nhân quyền và tự do tôn giáo không chỉ ở Việt Nam mà c̣n tại nhiều nước trên thế giới. Năm ngoái và năm nay, chúng tôi đă nói với chính phủ Việt Nam rằng chúng tôi có một số quan ngại về một số nhà bất đồng chính trị bị bắt, truy tố và cầm tù. Trong một phần của nỗ lực ngoại giao theo đường hướng tiếp xúc, chúng tôi nói rơ rằng chúng tôi ái ngại về t́nh trạng này, và điều đó không tốt cho Việt Nam.
Về vấn đề đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo, chúng tôi chưa đi tới quyết định. Chúng tôi tiếp tục theo dơi. Đă có một số phát triển tích cực về tự do tôn giáo ở Việt Nam, nhất là về việc các nhà thờ có thể đăng kư và hoạt động, nhưng vẫn c̣n tồn tại các vấn đề khác, trong đó có việc một số tín đồ bị ngược đăi.
VOA: Thưa ông, một số nhà quan sát nhận xét rằng Chiến tranh Việt Nam từng phủ bóng mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á, nhưng việc chính quyền Hà Nội đảm nhận chức chủ tịch Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm nay sẽ giúp tăng cường sự tham gia của Hoa Kỳ tại khu vực này. Ông có đồng ư với nhận định đó không?
Ông Scot Marciel: Tôi nghĩ đúng là một vài năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến này. Nhưng thành thực mà nói, tôi nghĩ chúng tôi đă qua giai đoạn đó, và cuộc chiến giờ đă là quá khứ. Trong khi vẫn c̣n một số các di sản chiến tranh để lại mà chúng tôi đang hợp tác giải quyết với Việt Nam cũng như với các nước khác thông qua các hoạt động nhân đạo, chúng ta đă qua thời kỳ chiến tranh.
Việt Nam là một đối tác tốt và chúng tôi có mối quan hệ tốt đẹp với nước này cũng như các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Chính quyền của Tổng thống Barack Obama đă tỏ rơ quyết tâm hợp tác với các nước Đông Nam Á và ASEAN. Và chúng tôi nghĩ rằng Việt Nam với tư cách chủ tịch ASEAN là một đối tác rất tốt đối với chúng tôi.
VOA: Trong một buổi điều trần trước tiểu ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ năm ngoái, ông lên tiếng bày tỏ quan ngại về căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam xung quanh vấn đề biển Đông. Thưa ông, tới giờ Hoa Kỳ c̣n lo ngại nữa không?
Ông Scot Marciel: Chúng tôi thực sự vẫn c̣n quan ngại. Chúng tôi từng tuyên bố rằng chúng tôi không nghiêng về phía nào trong việc tranh chấp pháp lư đối với các ḥn đảo cụ thể.
Nhưng điều quan trọng là các quốc gia liên quan phải tuân thủ tuyên bố ứng xử Biển Đông và cố gắng giải quyết các bất đồng thông qua đàm phán và đối thoại cũng như có các hành động cần thiết để tránh gây căng thẳng trong khu vực.
VOA: Lần đó, ông cũng khẳng định rằng Trung Quốc đă yêu cầu một số công ty dầu khí nước ngoài ngừng khai thác tại các khu vực ngoài khơi mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hoa Kỳ đă làm ǵ để truyền đạt ư kiến của ḿnh tới Bắc Kinh?
Ông Scot Marciel: Từ trước tới nay, chúng tôi vẫn duy tŕ thể hiện quan điểm rằng các công ty này có quyền hoạt động, và rằng các bất đồng và quan ngại nên được xử lư thông qua đối thoại giữa các chính phủ.
VOA: Vậy phía Trung Quốc phản ứng ra sao, thưa ông?
Ông Scot Marciel: Tôi nghĩ đây là vấn đề chúng tôi tiếp tục thảo luận với Trung Quốc và các nước khác.
VOA: Hoa Kỳ tăng cường quan hệ quân sự với Việt Nam cũng như Lào và Campuchia thời gian qua giữa lúc có sự cạnh tranh từ Trung Quốc. Liệu có phải Washington làm vậy để kiểm soát ảnh hưởng đang gia tăng của Bắc Kinh ở Đông Nam Á?
Ông Scot Marciel: Trong khi chúng tôi cải thiện quan hệ với các nước th́ việc phát triển mối bang giao quốc pḥng là một thành phần b́nh thường trong tiến tŕnh đó. Không có ǵ là bất thường cả. Thực tế là, chúng tôi có mối quan hệ quân sự giới hạn với Việt Nam, Lào và Campuchia cho tới gần đây.
Chúng tôi đă tiến hành các bước đi nhằm thúc đẩy các mối quan hệ này như bổ nhiệm các tùy viên quân sự. Đây thực sự chỉ là một hoạt động b́nh thường trong tiến tŕnh tăng cường quan hệ và không nhắm vào bất kỳ quốc gia nào.
VOA: Việt Nam là đối tác mạnh đến mức nào của Hoa Kỳ ở châu Á, thưa ông?
Ông Scot Marciel: Việt Nam đang ngày càng trở thành một đối tác mạnh hơn của Hoa Kỳ. Chúng tôi duy tŕ mối quan hệ tốt đẹp về một loạt các vấn đề. Trong 15 năm qua, mối quan hệ vẫn tiếp tục vững mạnh. V́ thế Việt Nam là một đối tác tốt về thương mại, kinh tế và ngày càng phát triển về mặt ngoại giao về các vấn đề như y tế khu vực, biến đổi khí hậu cũng như các vấn đề ngoại giao khu vực. Nh́n chung, chúng tôi phát triển một mối quan hệ đối tác tốt với Việt Nam, dù vẫn c̣n những vấn đề chúng tôi bất đồng. Nhưng đó là một phần trong tiến tŕnh thúc đẩy quan hệ.
VOA: Ông từng sống và làm việc ở Việt Nam nhiều năm trước. Điều ǵ từ đất nước này khiến ông vẫn nhớ?
Ông Scot Marciel: Điều gây ấn tượng khiến tôi nhớ nhất là mong muốn học hỏi và cải thiện bản thân của người Việt Nam, cả các giới chức cũng như dân thường, nhằm mang lại sự thịnh vượng cho đất nước. Tôi cũng nhớ rơ về sự thân thiện của người dân. V́ lịch sử, chúng tôi băn khoăn về thái độ của người dân đối với Hoa Kỳ, nhưng điều chúng tôi thấy là người dân hướng tới tương lai, thay v́ nh́n lại quá khứ. Và cũng chính điều đó giúp chúng tôi có thể xây dựng mối quan hệ tích cực như vậy.
VOA: Nếu có thể nói một câu tiếng Việt với các thính giả của VOA Việt Ngữ, ông sẽ nói ǵ?
Ông Scot Marciel: Tôi rất là vui mừng được thấy sự quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đă phát triển rất là tốt trong 15 năm trước.
Xin cám ơn ông Scot Marciel. Nếu Quư vị muốn chia sẻ các câu chuyện cùng thông tin hấp dẫn từ nơi ḿnh sinh sống, xin gửi về địa chỉ: vietnamese@voanews.com. Xin ghi trên tiêu đề là gửi chuyên mục 'Câu chuyện Việt Nam'. Nguyễn Trung xin chân thành cám ơn quư vị.

THỜI CƠ ĐĂ CHÍN MUỒI
Việt Nam, Ngày Thế Giới Ḥa B́nh 01 tháng 01 năm 2011
LỜI KÊU GỌI
TIẾN HÀNH GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
ĐỂ THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG
VIỆT NAM THĂNG TIẾN H̉A B̀NH
của Linh mục Tù Nhân Lương Tâm Nguyễn Văn Lư - Huế.
(bản chính thức)
 
Kính thưa Đồng bào Việt Nam thân yêu trong và ngoài Nước,
Cùng những người Cộng sản Việt Nam và Cộng đồng Quốc tế.
Chế độ Cộng sản độc tài vô thần duy vật đă trở thành một đại họa vô cùng cay đắng cho Nhân loại, một thử nghiệm đă hoàn toàn thất bại trên toàn cầu về một ước mơ công bằng, ḥa b́nh, văn minh, thịnh vượng không bao giờ đạt. Mọi người có chút lương tri và tâm trí đều không muốn chế độ vô luân này tồn tại thêm giây phút nào trên hành tinh này nữa.
Riêng tại Việt Nam, suốt 80 năm qua, kể từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Đông Dương, tức là Đảng CSVN, có mặt trên Quê hương chúng ta, th́ hận thù-gian trá-áp bức-cướp đoạt-bất công-bạo lực-đấu tố-khủng bố-chiến tranh… triền miên xâu xé Tổ quốc và Đồng bào chúng ta, dưới đủ mọi h́nh thức, vừa thô bạo vừa tinh vi, khiến không một người Dân Việt nào được an tâm vui sống trọn vẹn dù chỉ một ngày. Trăi nghiệm quá khổ đau chán ngấy này trong mỗi người chúng ta không nên kéo dài thêm ngày nào trên Dân tộc và trong tâm hồn con cháu thơ ngây vô tội của chúng ta nữa.
Vậy, hôm nay, Ngày Ḥa B́nh Thế Giới đầu năm 2011, hỡi toàn thể Đồng bào, mỗi người hăy góp một tay, quyết tâm hiệp lực chấm dứt vĩnh viễn chế độ Cộng sản phi nhân, tàn bạo, gian manh để cùng giúp nhau thiết lập một Chế Độ Dân Chủ Ḥa B́nh Đạo Đức Nhân Ái cho Dân Tộc Việt Nam. Theo đánh giá của một số Bạn hữu tâm huyết, tôi thiết tha kêu gọi mọi thành phần Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước hăy tận dụng thời cơ đă chín muồi phù hợp -hơn lúc nào hết- cho Quốc Vụ Khẩn Thiết này, không nên để lỡ :
1. Hỡi các Ủy viên 2 Bộ Chính trị BCHTƯ ĐCSVN khóa X và XI cùng toàn thể các đảng viên CS, quí vị đă thừa kế một gia sản đầy tội lỗi của 9-10 thế hệ CS đi trước, đă cố chấp đắm sâu vào việc gây tang thương khổ đau khôn xiết cho Đồng bào ruột thịt suốt 80 năm qua với vô số tội ác chồng chất, đặc biệt phạm 2 tội nặng nhất là Phản Quốc và Bán Nước (ít nhất là đồng lơa), đă làm Tổ quốc-Dân tộc Việt Nam mất văn hóa-đạo đức-văn minh, mất đất-biển-đảo-rừng-tài nguyên-môi trường-việc làm và mất Nước về tay Tàu Cộng vốn đă từng độ hộ chúng ta hàng ngàn năm, bằng chứng lộ liễu không thể chối căi quanh co biện bạch là : Công hàm trao nhượng Hoàng-Trường Sa cho Tàu Cộng ngày 14-9-1958 do Phạm Văn Đồng kư theo lệnh Hồ Chí Minh, hoàn toàn mất quyền kiểm soát vào tay đối phương hàng 400 ngàn hécta rừng đầu nguồn-bờ biển và vùng Tây Nguyên chiến lược và gần đây nhất là mê muội vứt đi 100 ngàn tỷ đồng mồ hôi nước mắt -kể cả xương máu- của Đồng bào, để khai mạc Ngàn Năm Thăng Long đúng vào Quốc khánh Tàu Cộng 01-10-2010.
Tất cả quí vị đều nhận thức được đại họa Dân tộc phải gánh chịu do Chủ nghĩa CS mang lại, đặc biệt là CNCS của Stalin-Mao Trạch Đông-Hồ Chí Minh, nhưng chỉ v́ quí vị quá chai ĺ tự huyễn và tự dối, để có thể kéo dài thời gian trục lợi thêm, viện cớ v́ ổn định xă hội, nhưng thực chất là để ổn định cho chính quí vị.
Vậy tôi thiết tha yêu cầu quí vị cần lấy hết tinh thần khoa học của một người CS c̣n một chút t́nh yêu Nước và ḷng tự trọng nào đó, để làm ngay một trong 2 công việc cấp thiết sau đây :
1.1. Ngừng tay chém giết bắt bớ Dân oan vô tội và những Công dân yêu Nước chân chính, sám hối, từ chức, giải thể đảng CS đầy sai lầm và tội lỗi do quí vị đang lănh đạo. Toàn Dân ngay chính VN chỉ mong sớm thấy ngày đảng CS -đại họa của Dân tộc- TỰ TUYÊN BỐ GIẢI THỂ. Đồng thời hăy trao Đất nước cho một Chính phủ lâm thời, để chuẩn bị cuộc Bầu cử Quốc hội đa đảng, dù chỉ mới mang màu sắc dân chủ chuyển tiếp c̣n non trẻ, vào cuối năm 2011 này như đă dự kiến.
1.2. KHÔN NGOAN VÀ CAN ĐẢM BƯỚC VÀO LỐI THOÁT DANH DỰ : Tự chấm dứt vai tṛ độc đảng độc tôn, khách quan chấp nhận chế độ đa nguyên đa đảng chân chính : đảng CSVN sẽ cạnh tranh công bằng lành mạnh với các tổ chức chính trị khác, để chung sức xây dựng Đất nước bên cạnh nhau, như hầu hết tại các Nước văn minh trên toàn cầu hiện nay, tránh t́nh trạng Toàn Dân không c̣n sức chịu đựng nổi, không thể kiềm chế các hành động sôi sục bùng phát, gây tổn hại khôn lường cho Đất nước không thể tránh.
2. Hỡi toàn thể lực lượng Công an và Bộ đội ! Tổ Quốc đă rơi vào tay ngoại bang một phần lănh thổ và lănh hải cực kỳ quan trọng về an ninh-chiến lược, Đất Nước đă bị lệ thuộc đế quốc Tàu Cộng ngày càng ch́m đắm trong mọi lănh vực. Quí Bạn hăy DỨT KHOÁT ĐỨNG HẲN VỀ PHÍA DÂN TỘC, để luôn làm nhiệm vụ hết sức cao cả là bảo vệ an ninh-quốc pḥng cho Tổ quốc, luôn là chỗ dựa đáng tin cậy của Đồng bào, nhất là những người Dân Oan mất đất mất nhà, Dân Nghèo cả về nhân phẩm-nhân quyền, cả về cơm ăn-áo mặc. Quí Bạn hăy gây áp lực để một số nhỏ cấp lănh đạo ĐCSVN không thể tiếp tục duy tŕ địa vị độc tôn, hầu lợi dụng chức quyền vơ vét thêm tài sản quốc dân, buộc họ phải trả lại quyền Dân chủ trọn vẹn cho Toàn Dân. Chúng tôi biết rằng hiện nay đă có khoảng 50% các Bạn đă dứt khoát đứng về phía Dân tộc, hi vọng nhờ các Bạn, số chiến sĩ Dân chủ Ḥa b́nh trong hàng ngũ các Bạn tăng lên mỗi ngày. Quí Bạn hăy quả cảm đứng lên gánh vác trọng trách cao cả Lịch sử và Đồng bào giao phó.
3. Hỡi toàn thể Cán bộ trong bộ máy công quyền CS ! Trong t́nh trạng cực kỳ bế tắc của Đất nước hiện nay, Anh Chị Em hăy yên tâm phục vụ Đồng bào đúng với cương vị của mỗi người trong bộ máy công quyền, dù đă quá rệu ră, nhưng vẫn c̣n cần để duy tŕ cuộc sống Quốc Dân lúc giao thời. Anh Chị Em phải chấm dứt ngay tệ nạn hành hạ, sách nhiễu ṿi vĩnh Dân chúng như một đại họa Dân tộc đă kéo dài từ 65 năm nay, thay vào đó là tận tâm lễ độ vô tư phục vụ Dân. Anh Chị Em cũng phải DỨT KHOÁT ĐỨNG HẲN VỀ PHÍA DÂN TỘC, giúp số chiến sĩ Dân chủ Ḥa b́nh trong hàng ngũ các Bạn gia tăng mỗi ngày. Cũng như các Chiến sĩ Công an-Bộ đội, nếu Anh Chị Em do dự ủng hộ phong trào Dân chủ, lương tâm các Bạn sẽ dày ṿ, lịch sử sẽ đào thải và con cháu các Bạn sẽ vô cùng xấu hổ buộc ḷng phải lên án các Bạn như những tội đồ Dân tộc: Phản Quốc và Bán Nước.
4. Kính đề nghị các Tổ chức Dân chủ hăy CÔNG BỐ NGAY với Quốc Dân Dự án Chính trị của ḿnh để Toàn Dân an tâm kỳ vọng vào một tương lai Việt Nam đạo đức hơn, văn minh hơn, ổn định hơn và vững bền hơn, qua một lộ tŕnh Dân chủ hóa Đất nước thiết thực phù hợp, với một Bản Hiến pháp hoàn hảo, một cuộc Bầu cử Quốc hội tự do công bằng văn minh. Xin quí vị hăy xông lên HƯỚNG DẪN ĐỒNG BÀO LÀM NHIỆM VỤ LỊCH SỬ, bằng các cuộc biểu t́nh ôn ḥa, kiên định, hiệu quả, bắt đầu ngày 12-01-2011, ngày khai mạc đại hội ĐCSVN khóa XI, trước các trụ sở UBND tỉnh-thành phố, huyện-quận và bằng các h́nh thức đấu tranh bất bạo động hữu hiệu khác.
5. Kính đề nghị quí Chức sắc các Tôn giáo hướng dẫn các Tín đồ Tôn giáo ḿnh : Mỗi khi bị bạo quyền ngăn cấm tổ chức Nghi Lễ Tôn giáo th́ biết cách tức khắc tự biến thành CÁC BUỔI CẦU NGUYỆN và CÁC CUỘC BIỂU T̀NH ÔN H̉A NHƯNG CƯƠNG QUYẾT; tận dụng các dịp tụ tập đông Tín đồ để CẦU NGUYỆN cho Dân tộc sớm thoát khỏi Đại họa Giặc Tàu và Đại họa CS độc tài vô thần bất công ác hại.
6. Kính mời Đồng bào, đặc biệt giới Công nhân, Bạn trẻ, Sinh viên, Học sinh :
6.1. Sẵn sàng biểu t́nh ôn ḥa mỗi lúc Cao trào Chống Giặc Tàu & Dân chủ Đa nguyên Đa đảng, hoặc các Tổ chức Dân chủ chân chính như Khối 8406, Cao trào Nhân Bản, Phong trào Dân Chủ… phát động, khởi phát từ ngày 12-01-2011, ngày quốc nhục 30-4-2011,…như là những tập dượt cho cao điểm của năm 2011 là dịp Bầu cử Quốc hội độc đảng bù nh́n của ĐCSVN cuối năm 2011, hoặc những dịp Dân bị bắn giết đàn áp oan ức, bị cướp đoạt đất đai trắng trợn cực kỳ bất công vô lư… liên tục cho đến ngày hoàn toàn thắng lợi.
6.2. Mỗi người mặc áo trắng/ khoác khăn trắng với một lá cờ nhỏ cầm tay của Đoàn thể-Tổ chức ḿnh, hoặc một lá cờ trắng. Tuyệt đối không mang theo -dù là để đốt- cờ đỏ sao vàng vốn là cờ của tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa do Cộng Sản lừa gạt vay mượn đưa vào VN, biểu tượng của Đại họa Dân tộc, hoặc cờ đỏ búa liềm của ĐCS cực đoan và đẫm máu.
6.3. Là người Chiến sĩ Dân chủ Ḥa b́nh, luôn tuyệt đối tự kiềm chế không mang theo vũ khí, hung khí, đá-gạch… Khôn ngoan tỉnh táo không để đối phương khiêu khích dẫn đến xô xát, tạo cớ cho đối phương sử dụng bạo lực rồi đổ vấy cho chúng ta. Dù đối phương rải sẵn đá-gạch-cây-gậy… dọc đường để gài bẫy chúng ta mắc mưu sử dụng, thuê côn đồ hoặc đội lốt xă hội đen chọc tức-quăng ném-gây hấn,… chúng ta vẫn phải luôn khôn ngoan tự kiềm chế, ôn ḥa trật tự, không rơi vào bẫy bạo loạn mà đối phương đă cố t́nh giăng ra, để có cớ đàn áp chúng ta cách thô bạo đẫm máu. Hăy luôn nhớ Xă Hội Đỏ c̣n trăm lần nguy hiểm hơn Xă Hội Đen. Nên đi xe đ̣ xe buưt hoặc đi bộ đến nơi biểu t́nh để khỏi bị tịch thu xe máy xe đạp. Tận dụng cơ hội kêu mời lực lượng đàn áp biểu t́nh sáng suốt can đảm quay về tham gia ủng hộ phong trào Dân chủ.
6.4. Địa phương nào chưa có ai lănh đạo th́ các Bạn tự chọn ra người lănh đạo lâm thời từng mỗi lần. Thời gian sẽ tự đào tạo và tuyển chọn được người lănh đạo xứng đáng thích hợp.
6.5. Các biểu ngữ và khẩu hiệu cần dùng phù hợp cho mỗi dịp : Tổ Quốc Việt Nam Bất Diệt - Dân Là Chủ - Chống Giặc Tàu - Dân Chủ Muôn Năm - Giải Thể Đảng Cộng Sản - Đảng Cộng Sản Hăy Tự Giải Thể - Phải Có Bầu Cử Quốc Hội Đa Đảng - Đa Nguyên Đa Đảng Muôn Năm - Việt Nam Đa Nguyên Đa Đảng - Sự Thật Giải Thoát Quê Hương - Ḥa Giải Thắng Hận Thù - Dân Tộc Việt Nam Nhân Ái…
6.6. Riêng tôi, dù bị CS ngăn cản bằng mọi thủ đoạn, phải bước đi khập khiễng với dây trợ lực, các ngày Toàn Dân biểu t́nh, vẫn t́m mọi cách mặc áo trắng tham gia với Đồng bào, khởi phát sáng ngày 12-01-2011, các ngày Chúa nhật, Lễ nghỉ, mồng 1 & 15 mỗi tháng, nhất là những dịp cao điểm. Nếu tôi bị bắt trước ngày 12-01-2011, kính mời Đồng bào và các Chiến sĩ Dân chủ Ḥa b́nh phải tận dụng hết mọi cơ hội và khả năng, liên tục tiến hành các cuộc biểu t́nh cùng các h́nh thức gây áp lực cần thiết khác, ngày càng mạnh hơn, cho đến ngày hoàn toàn thắng lợi. Ngay lúc bị bắt, lập tức tôi sẽ tuyệt thực vô thời hạn và khước từ mọi điều trị của bạo quyền CS, để hiệp thông cầu nguyện với Đồng bào đang đấu tranh gian khổ từng ngày từng giờ.
7. Kính đề nghị Đồng bào Việt Nam thân yêu hải ngoại làm ǵ được cho Tổ Quốc hồi sinh, đạo đức, ḥa b́nh và thăng tiến, kính mong Quí Vị và Bạn hữu làm hết khả năng, nhất là vận động Quốc tế, trong giai đoạn cực kỳ quan trọng có tính quyết định này. Muốn thoát khỏi Quốc nạn và Quốc nhục làm một thuộc quốc của Trung Cộng, Việt Nam yêu quí của chúng ta chỉ c̣n một con đường duy nhất là thiết lập thành công một Chế độ Dân chủ Đa nguyên Đa đảng văn minh giữa Cộng đồng Quốc tế thân thiện ḥa b́nh.
8. Kính đề nghị Liên Hiệp Quốc và Cộng đồng Quốc tế đồng tâm hiệp lực với chúng tôi chôn vùi Chế độ Cộng sản không tưởng và Chế độ Xă hội Chủ nghĩa cực đoan (vô thần, duy vật và bạo lực độc đảng-độc tài) vĩnh viễn trên Đất nước Việt Nam và trên toàn thế giới, như một thử nghiệm đẫm máu và gian manh không bao giờ được phép lặp lại trong nền văn hóa-văn minh đang từng bước vươn cao lên Chân-Thiện-Mỹ đích thực của Gia đ́nh Nhân loại hôm nay.
Kính cảm ơn mọi người.
Nguyện xin Thiên Chúa hỗ trợ mọi nỗ lực trung thực-ḥa b́nh-nhân ái của mỗi người chúng ta.
 
Kêu gọi từ Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế ngày Ḥa B́nh Thế Giới 01 tháng 01 năm 2011

Kư tên : Lm NGUYỂN Văn Lư
(và đóng dấu)

Linh mục Tù nhân lương tâm Tađêô Nguyễn Văn Lư, 69 Phan Đ́nh Phùng, Huế.
Kính mời Quí Vị và Quí Bạn hữu ghi Tên chung lời kêu gọi và hiệp lực hướng dẫn Đồng bào tiến hành.
CAO TRÀO DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG VIỆT NAM
& CAO TRÀO TOÀN DÂN VIỆT NAM CHỐNG GIẶC TÀU
2010 - 2011
 
Kính mời toàn thể Đồng bào Việt Nam,
nhất là giới trẻ, sinh viên, học sinh :
Mỗi người một dụng cụ viết :
ống sơn, viên phấn, cây bút, que than,
múi trái cau tươi*, cành cây có mủ*,…
(*lúc viết chữ mờ, lát sau lộ rơ)
để viết lên mặt đường, cột đèn, thành cầu,
ga tàu xe, khu vực chợ, vách trụ sở, cổng cơ quan,
bất cứ chỗ nào có thể viết được 3 từ :
Dân Là Chủ
để đ̣i Dân Chủ thật sự văn minh bằng mô h́nh
Dân Chủ Đa Nguyên Đa Đảng cho Tổ quốc Việt Nam.
Ÿ Và viết 3 từ hoặc 3 cụm từ :
Chống Giặc Tàu
HS.TS.VN hoặc Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam
để báo động quốc nạn
Giặc Tàu Cộng cưỡng chiếm Việt Nam,
bằng nhiều thủ đoạn tinh vi ngày càng lộ liễu,
làm Dân tộc Việt Nam :
mất văn hóa, mất đất, mất rừng,
mất biển, mất đảo, mất việc, mất Nước.
Kính mời Đồng bào hưởng ứng và tiếp tay.
Chúc đồng tâm-hiệp lực và thành công.
Xin cảm ơn.
Cao trào Dân Chủ Đa Nguyên Đa Đảng Việt Nam.
Và Cao trào Toàn Dân Việt Nam Chống Giặc Tàu.

 
Hoa Kỳ cam kết tiếp tục bảo vệ an ninh khu vực Á Châu - TBD
Thanh Quang, phóng viên RFA

Tại cuộc họp báo hôm thứ Năm(02/17) ở Trung tâm Báo chí Ngoại Quốc trụ sở tại thủ đô Washington, Tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Á Châu-TBD, Đô Đốc Robert Willard, tŕnh bày với báo giới về quan điểm của quân đội Hoa Kỳ tại vùng Á Châu-Thái B́nh.
 
AFP
Hàng không mẫu hạm USS George Washington tham dự tập trận với hải quân Nam Hàn ở biển Hoàng Hải (10-30-2010)
Lên tiếng với kư giả nước ngoài, Đô Đốc Robert Willard trước hết cho biết ông nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Á Châu -TBD trong 16 tháng nay và từng đi lại cũng như làm việc nhiều về các vấn đề Á Châu-TBD. Ông khẳng định rằng mối quan tâm của Bộ Tư Lệnh Á Châu-TBD của Mỹ là tiếp tục bảo vệ an ninh cũng như người dân trong khu vực.
Nhật
Trả lời báo giới, Đô Đốc Willard trước hết cho biết:
Theo ông th́ chắc chắn Nhật Bản là 1 đồng minh chủ chốt của Hoa Kỳ tại vùng Đông-Bắc Á.
Đô Đốc Robert Willard
Rằng mối quan hệ giữa Quân đội Hoa Kỳ và Lực lượng Pḥng vệ Nhật Bản rất vững mạnh. Theo ông th́ chắc chắn Nhật Bản là 1 đồng minh chủ chốt của Hoa Kỳ tại vùng Đông-Bắc Á. Do đó, Hoa Kỳ đă thảo luận và tiếp tục khuyến khích lực lượng của xứ Phù Tang đóng góp an ninh cho vùng Á Châu-TBD, hợp tác với nhiều đối tác trong khu vực.
Đô đốc Willard nhân tiện lưu ư rằng Chiến lược Quân sự mà Hoa Kỳ vừa công bố hồi tuần rồi chú trọng tới việc Washington xúc tiến mối quan hệ hợp tác Mỹ-Nhật tới mức tối đa mà Hoa Kỳ có thể.
Đài Loan
Liên quan Đài Loan, Đô Đốc Willard cho rằng việc Đài Bắc chú trọng tăng cường khả năng quốc pḥng là điều không có ǵ mới giữa lúc TQ ráo riết hiện đại hóa quân đội. Và vai tṛ của Bộ Tư Lệnh Mỹ tại TBD liên quan vấn đề này là cứu xét hầu có thể đáp ứng những ǵ mà Washington xem là nhu cầu pḥng thủ chính đáng của Đài Loan.
Trung Quốc
 
tq-tap-tran-250.jpg
Một cuộc tập trận của Trung Quốc ở Biển Đông. AFP photo.
 
Khi được hỏi về khả năng phi đạn đạn đạo của TQ, Đô Đốc Willard cho biết:
Rằng điều chắc chắn là Hoa Lục hiện đạt được khả năng phi đạn đạn đạo đáng ngại và tiếp tục nỗ lực này trong 2 thập niên nay. Do đó, Hoa Kỳ đang theo dơi sát vấn đề.
Theo Đô Đốc Willard, khả năng phi đạn đạn đạo đó, kết hợp với nhiều khả năng khác của Quân đội Giải phóng Nhân dân TQ, sẽ tạo nên mối đe dọa đáng ngại về vấn đề di chuyển trong khu vực, không phải chỉ liên quan tới Hoa Kỳ, Nhật Bản, Philippines mà c̣n những nước trong vùng.
Do đó, Đô Đốc Willard nhấn mạnh rằng điều quan trọng là Hoa Lục phải công khai và sẵn sàng đối thoại với Washington và những nước trong khu vực liên quan việc hiện đại hóa quân đội cùng ư định thực sự của Bắc Kinh.
Nam Hàn
Đô đốc Willard nhân tiện lưu ư rằng khi thẩm định về vị thế Hoa Kỳ ở Á Châu-TBD, Washington có khuynh hướng chú trọng tới vùng Đông Bắc Á để giúp Nam Hàn ngăn chận nguy cơ tấn công của Bắc Hàn, đồng thời củng cố liên minh Mỹ-Nhật. Trong khi đó, Đô đốc Willard nhấn mạnh, lực lượng ông có bổn phận duy tŕ sự hiện diện quân sự mạnh mẽ và liên tục tại vùng Đông Nam Á, Nam Á và Châu Đại Dương.
Theo Đô đốc Willard th́ hiện giờ kế hoạch tập trận quy mô hàng năm giữa Mỹ và Nam Hàn nhằm thể hiện khả năng pḥng thủ Hàn-Mỹ, cũng như bảo vệ Seoul.
Philippines
Về Philippines, Đô đốc Willard khẳng định:
Đô đốc Willard nhận thấy Philippines tọa lạc ở vị trí chiến lược quan trọng, giáp ranh với Biển Philippines và Biển Đông.
Đô Đốc Robert Willard
Rằng đây là mối quan hệ dài lâu giữa Hoa Kỳ và Philippines, nơi từng diễn ra những diễn biến quân sự đáng kể.
Đô đốc Willard nhận thấy Philippines tọa lạc ở vị trí chiến lược quan trọng, giáp ranh với Biển Philippines và Biển Đông.
Ông khẳng định rằng Hoa Kỳ sẽ xúc tiến hợp tác với quân đội Phi, với chính phủ Manila, nhằm giúp nâng cao hiệu quả của lực lượng này trong việc ứng phó với nhiều thách thức.
V́, theo Đô đốc Willard, những thách thức về an ninh hàng hải cùng nhiều thách thức khác, đặc biệt là tại khu vực Biển Đông, rất cần tới nỗ lực hợp tác như vậy.
Úc
 
clinton-spindelegger-250.jpg
Bà Hillary Clinton và Ngoại trưởng Úc Michael Spindelegger tại Hội nghị Bộ trưởng thường niên Mỹ - Úc (AUSMIN) lần thứ 25 diễn ra tại Úc hôm 16/11/2010. Photo courtesy of state-gov.
 
Liên quan Úc, th́ Đô đốc Willard cho biết:
Vai tṛ của Úc rất đa dạng. Úc có quân số nhỏ hơn nhiều so với Hoa Kỳ nhưng lại có ảnh hưởng đáng kể trên b́nh diện quốc tế. Lực lượng Úc từng sát cánh với quân đội Mỹ trong mọi cuộc chiến kể từ Đệ Nhất, Đệ Nhị Thế Chiến. Do đó, Đô đốc Willard xem lực lượng Úc có vai tṛ rất thiết yếu trong việc ổn định khu vực; Và Úc là 1 đồng minh cũng như đối tác rất quan trọng của Hoa Kỳ.
Vào lúc kết thúc cuộc họp báo, Đô đốc Robert Willard cam kết rằng với tư cách là Tư lệnh Lực lượng Mỹ tại Á Châu-TBD, ông đề nghị các Tư lệnh Hải, Lục, Không quân, Thủy quân lục chiến, Lực lượng đặc biệt của Mỹ sẽ hợp tác chặt chẽ với vùng Á Châu-TBD, nỗ lực đóng góp cho nền an ninh khu vực này cùng sự vững mạnh của các quân đội đồng minh, đối tác.
Theo Đô đốc Willard th́ những nước đối tác quan trọng của Hoa Kỳ, như Indonesia, Singapore, Malaysia, VN, Ấn Độ cùng nhiều nước khác hiện có vai tṛ thiết yếu cho toàn vùng Á Châu-TBD, cho an ninh của người dân vùng Á Châu-TBD và cả tương lai của vùng này.

BÀI HỌC TỪ LỊCH SỬ: PHẢI THOÁT KHỎI TRUNG QUỐC
Thử t́m bài học từ lịch sử
Trần Kinh Nghị
 
“Kiến thức về lịch sử và cội nguồn dân tộc không chỉ đơn thuần là sự hiểu biết về quá khứ; nó là tài sản vô giá là mà từ đó mỗi dân tộc cần tự rút ra những bài học thiết thực cho ḿnh để tiếp tục hành tŕnh vào tương lai”.
Có lẽ chính v́ lẽ đó mà bài báo ngắn ngũi với tiêu đề “Lịch sử cần Sự thật” đăng trên TuầnVietnam cuối năm 2010 http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-12-27-lich-su-can-su-that đă thu hút sự quan tâm sâu rộng từ cộng đồng với nhiều ư kiến đóng góp rất đáng lưu tâm. Qua thảo luận cho thấy đúng là có một t́nh trạng hiểu biết sơ sài và không đồng nhất về lịch sử và cội nguồn dân tộc đồng thời với thái tự ti dân tộc hoặc hoài nghi về sự thật lịch sử cũng như các giá trị nhân văn của dân tộc ḿnh; và điều này diễn ra trong mọi tầng lớp, kể cá trí thức và người trẻ tuổi ở Việt Nam ngày nay. Cảm nhận này thôi thúc người viết muốn nói thêm đôi điều sau đây.
Lịch sử cần lắm vai tṛ của Cơ quan chức năng
Trước hết, có lẽ nên bắt đầu bằng việc trích dẫn ra đây những ư kiến phản hồi trái ngược từ phía bạn đọc xung quanh một số vấn đề đặt ra trong bài viết “Lịch sử cần sự thật”; chúng tuy không nhiều nhưng rất “ấn tượng”.
Một số bloggger không đồng t́nh với cách đặt vấn đề dân tộc Việt Nam có cội ngưồn lâu đời và có mối liên quan mật thiết với cộng đồng Bách Việt,. Lư do có thể: một phần v́ họ chưa được biết nhiều về khái niệm Bách Việt (mặc dù trên thế giới đă có hẵn môn “Bách Việt học” với nhiều công tŕnh nghiên cứu đă được xuất bản), một phần v́ trong thâm tâm họ luôn mặc cảm rằng dân tộc Việt Nam chỉ là một dân tộc nhỏ và lạc hậu so với dân tộc Hán ở bất cứ thời kỳ nào. Một số người thậm chí c̣n tỏ thái độ mĩa mai thiếu nghiêm túc khi nói về các truyền thuyết như Lac Long Quân - Âu cơ và các vua Hùng…, thậm chí nghi ngờ hoặc bác bỏ cả luận điểm “hơn 4.000 năm lịch sử” của dân tộc. Đồng thời ngược lại cũng có những ư kiến khác i quá đề cao dân tộc ḿnh một cách mù quáng bất chấp sự thật lịch sử hoặc sẵn sàng bác bỏ những ǵ đă được xác lập trong sử sách cũ.
Vâng, quả đă có những quan điểm ngược chiều “thái quá” như thế trong quá tŕnh tranh luận xung quanh chủ đề lịch sử và cội nguồn dân tộc. Chúng tuy không nhiều nhưng có lẽ cũng đủ để khiến ta giật ḿnh. Riêng người viết bài này thực sự không cảm thấy ngạc nhiên hoặc khó chịu, trái lại c̣n cảm ơn họ đă nói lên thực trạng t́nh h́nh. Dù sao họ cũng c̣n ư thức quan tâm đến lịch sử và qua đó góp phần vào những cuộc thảo luận sôi nổi và thực chất hơn.
T́m hiểu kỹ thêm, ta sẽ nhận ra rằng những b́nh luận như trên thường phát ra từ những người thiếu hiểu biết cơ bản về lịch sử và cội nguồn dân tộc. Những ư kiến như vậy thường lập tức bị các blogger khác phê phán, bác bỏ, đôi khi trong những cuộc thảo luận dằng co kéo dài. Nhưng nhiều trường hợp cả người bác bỏ cũng không thể đưa ra đủ lư lẽ thuyết phục v́ bản thân họ cũng thiếu những kiến thức cần thiết.
Điều đáng chú ư là, những ư kiến trái ngược như trên nêu trên tuy không xuất hiện nhiều trên mạng, nhưng đă phản ánh t́nh h́nh tương tự trong xă hội ta ngày nay, nhất là trong một bộ phận thanh thiếu niên ngại học lịch sử nhưng thích xem phim ảnh và sách chuyện giả sử của Trung Quốc đang rất sẵn trên thị trường. Biểu hiện ở chỗ các em thường chỉ bàn luận về h́nh thức như trang phục, tướng mạo của các nhân vật tron phim ảnh để kết luận rằng người Hán “hơn” người Việt!. Đến nỗi có em nhầm lẫn cả tên tướng giặc với tướng ta, hoặc chỉ quen nói, viết bằng những ngôn từ ngô nghê của phim ảnh. Ngay cả những người có học cũng không hoàn toàn hiểu và thấm nhuần những điều nêu lển trong sách giáo khoa hiện hành.

( Bản đồ minh họa lănh thổ Trung Quốc thời Nhà Hạ chỉ bằng một giọt dầu trong toàn bộ lănh thổ ngày nay- nguồn: Wikipedia )
 
Bên cạnh loại ư kiến ngược như nói trên, đại đa số bạn đọc đă rất hoanh nghênh và tán thành với cách đặt vấn đề của bài báo như bản thân tiêu đề đă nói lên “lịch sử cần sự thật”. Được biết, đến nay có khoảng trên dưới 100 trang web của các trường, viện, nhà xuất bản, các cơ quan, các nhóm và cá nhân đă trích đăng lại bài viết để làm tài liệu tham khảo. Cũng đă h́nh thành một số diễn đàn tranh luận rất sôi nổi xung quanh chủ đề lịch sử và cội nguồn dân tộc. Qua qúa tŕnh thảo luận đă xuất hiện thêm nhiều cách lập luận khác nhau với những thông tin và sử liệu có giá trị thực tiễn do các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cung cấp. Xin đơn cử ra đây vài trường hợp.
Đó là ư kiến của ông Giám đốc TT NC Lư học Đông Phương khẳng định quan niệm Việt sử 5.000 năm văn hiến bắt đầu từ quốc hiệu Văn Lang của các Vua Hùng tức năm 2879 trước CN với địa giới phía Bắc bao gồm cả Hồ Động Đ́nh. Ông đồng thời cũng bác bỏ quan điểm hoài nghị cho rằng thời Hùng Vương chỉ có thể bắt đầu vào thế kỷ thứ VII trước CN như "một liên minh gồm 15 bộ lạc, cùng lắm là một nhà nước sơ khai" với địa bàn cư trú vỏn vẹn ở đồng bằng sông Hồng (!).
Đó là thông tin của một bác sĩ Việt kiều cho hay ông đă đích thân đến tận các địa danh trong truyền thuyết như Hồ Động Đ́nh, Núi Thái Sơn (Ngũ Lĩnh), Sông Tương, cánh đồng Tương, Đền thờ Vua Bà (tức là Bà Trưng), v.v…thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc để t́m hiểu cho rơ ngọn ngành. Sau đó ông kết hợp với những kiến thức y học và khảo cổ vốn là nghề nghiệp của bản thân để đi đến kết luận: Những ǵ nói trong truyền thuyết là có thực; biên giới nước Việt Nam cổ bao gồm cả vùng Hồ Động Đ́nh là sự thật.
Qua thảo luận nhiều bạn đọc cũng có dịp đọc lại các công tŕnh nghiên cứu với những luận cứ táo bạo của Thiền sư Nguyễn Mạnh Thát cùng ư kiến phản hồi của Nhà nghiên cứu Lịch sử kỳ cựu Phan Huy Lê, cũng như nhiều công tŕnh nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác, từ đó khuyến khích ư thức t́m ṭi nghiên cứu nhằm làm rơ những “góc khuất” trong lịch sử và cội nguồn dân tộc . Một lần nữa hàng loat sách sử đă được các bạn đọc t́m ṭi tra cứu. Đó là một dấu hiệu đáng mừng.
Nhân đây người viết xin một lần nữa nhắn nhủ các bạn đọc, đặc biệt các bạn trẻ, hăy bớt chút thời gian t́m đọc mọi thông tin liên quan đến lịch sử Việt Nam mà ngày nay rất sẵn có trên hệ thống internet, kể cả những thông tin mới khám phá của các nhà chuyên môn Việt Nam và nước ngoài. Hăy tự ḿnh đọc hiểu và trao đổi cùng mọi người. Đó là cách tốt nhất để tự học tập và trau dồi kiến thức nhằm hiểu đúng hơn về lịch sử nước nhà. Đó cũng là một cách thiết thực để thể hiện ḷng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam ngày nay.
Cũng xin thưa, bản thân người viết cũng chỉ là một một “người đọc sử”, và qua đọc mà nhận rằng vẫn c̣n rất nhiều “điểm khuất” chưa được giải mă trong toàn bộ biên niên sử của dân tộc. Chỉ tiếc rằng vẫn đang có một xu hướng tự hài ḷng với những ǵ đă có trong sử sách cũ; thậm chí có những người làm công tác truyên truyền du lịch và cả một số nhà sử học chuyên nghiệp chỉ thích “tô son trát phấn” cho những huyền thoại mà không mấy quan tâm đến sự thật. Hậu quả là sự mai một của những sử liệu thật và thay vào đó bằng những “sử liệu ảo”. Xin đơn cử một ví dụ: Nhiều người Việt Nam ngày nay dần tin rằng Vua Hùng xuất phát từ Phú Thọ (v́ ở đó có Đền Hùng) và quên mất gốc tích Hồ Động Đ́nh bên Trung Quốc. Điều tương tự cũng đang diễn ra với câu chuyện Thánh Gióng, An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Triệu Đà*, v v… Cứ đà này th́ không thể nào tránh được sự nhầm lẫn chết người rằng nước Việt cỗ chỉ gồm châu thổ Sông Hồng và cùng lắm là từ thế kỷ thứ 7 TCN!
Tóm lại, dù là ư kiến ngược hay xuôi, tất cả cho thấy t́nh trạng “dân ta không biết sử ta” là có thật. Có một số nguyên nhân, cả từ hai phía người dân và nhà chức trách, nhưng nguyên nhân chính có lẽ là do sách giáo khoa và tài liệu lịch sử của ta chứa đựng quá nhiều khái niệm mơ hồ nhưng thiếu sử liệu và bằng chứng thuyết phục, do đó đă trở nên nhàm chán đối với đại đa số người học và người đọc của ngày hôm nay. Nói cách khác là có sự bất cập trong công tác nghiên cứu, giáo dục và truyền thông liên quan đến môn lịch sử và cội nguồn dân tộc.
Thực ra đă có nhiều ư kiến bày tỏ mối lo lắng trước thực trạng bất cập của nền sử học nước nhà; và đang có nhiều nhà nghiên cứu tư nhân hoặc các tổ chức phi chính phủ đă và thầm lặng tiến hành các công tŕnh nghiên cứu nhằm góp phần bổ sung, bổ khuyết cho kho tàng sử liệu dân tộc mà họ quư trọng. ǵn giữ. Nhưng đáng tiếc là những kết quả nghiên cứu của họ chưa thể phát huy hết tác dụng do thiếu vai tṛ chủ đạo và sự ủng hộ thực chất của các cơ quan nhà nước chuyên trách. Thiết nghĩ, để giải quyết rốt ráo vấn đề này, không ai khác mà chính là các cơ quan chức năng các cấp phải tích cực chủ động “vào cuộc”.
Liên quan đến công tác này, được biết Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tại buổi gặp mặt đầu năm Tân Măo với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đă có ư kiến chỉ đạo rất kịp thời: “Tiếp tục những nỗ lực t́m ṭi, nghiên cứu những di sản, lịch sử c̣n ẩn chứa trong tâm hồn, nguồn cội của dân tộc Việt Nam để quảng bá, giới thiệu cho các thế hệ tiếp theo, nếu việc này bị xem nhẹ là sẽ tạo ra nguy cơ đối với sự tồn vong của dân tộc”. Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh: “Đă là lịch sử th́ phải đúng sự thật, trung thực và chính xác. Đối với những vấn đề trước đây công bố chưa chính xác th́ khi đă có đủ tư liệu, cần có bước đi thích hợp để đính chính lại lịch sử” **
Qua quá tŕnh trao đổi thấy toát lên một quan niệm chung là: Đối với những người làm công tác nghiên cứu lịch sử, mọi sử liệu, kể cả truyền thuyết, ca giao tục ngữ, cho đến di tích khảo cổ, khoa học sinh học và gien di truyền, v.v… đều có giá trị nghiên cứu như nhau, và không thể bị coi thường, coi nhẹ. Vấn đề là cách thức kết hợp chúng với nhau như thế nào và vận dụng phương pháp luận nào để đi tới những kết quả khách quan và chính xác nhất. Thật là sai lầm nếu ai đó chỉ v́ một vài phát minh mới mà đă vội từ bỏ những sử liệu hoặc luận điểm đă có từ trước. Ngược lại cũng không ổn nếu chỉ măi hài ḷng với truyền thuyết và những ǵ đă được ghi chép lại trong sử sách cũ (bới chúng dù sao cũng là do con người sao chép lại nên không thể không có sai sót do vô t́nh hay cố ư trong quá tŕnh biến thiên hàng ngàn năm của lịch sử). Kiến thức về lịch sử và cội nguồn dân tộc không chỉ đơn thuần là sự hiểu biết về quá khứ; nó là tài sản vô giá mà từ đó mỗi dân tộc cần tự rút ra những bài học thiết thực cho ḿnh tiếp tục hành tŕnh vào tương lai.
Bài học nào từ lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam?
Nếu mỗi quốc gia dân tộc cũng có “số mệnh”, th́ phải chăng số mệnh của dân tộc Việt Nam là phải chiến đấu chống ngoại xâm? Cái mệnh này gắn chặt đến nỗi mỗi con người Việt Nam sinh ra đều biết ḿnh “có hơn 4.000 năm lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước” và thuộc ḷng các niên đại bị ngoại xâm ở các thời Tần, Hán, Đường, Nguyên-Mông, Pháp, Nhật, Tàu Tưởng, Mỹ và Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa.
Trong số các kẻ thù xâm lược, có một kẻ mà dù muốn hay không, người Việt Nam vẫn phải chấp nhận chung sống cận kề đời đời kiếp kiếp, đó là nước Trung Quốc vĩ đại với dân số đông nhất thế giới vẫn tự phong là “vương triều” giữa thiên hạ. Lịch sử cho thấy, trong quá tŕnh mở mang bờ cơi, nước láng giềng Phương Bắc này đă rất thành công về hướng Nam nơi vốn đă là thánh địa của hàng trăm tộc người Bách Việt, trong đó có nước Văn Lang xưa và trở thành Việt Nam ngày nay. Nhân loại chứng kiến rất nhiều trường hợp xâm lược và thôn tính lẫn nhau, nhưng trường hợp Hán tộc thôn tính các Việt tộc có lẽ là một trường hợp độc đáo cả về quy mô, cung cách và tính triệt để của nó. Trong quá tŕnh kéo dài hàng ngàn năm từ trước đến sau CN, các bộ tộc hoặc vương quốc Bách Việt đă lần lượt bị Hán tộc thôn tính và đồng hóa, chỉ c̣n lại Việt Nam . Tuy không bị đồng hóa nhưng Việt Nam đă bị dồn đẩy về phía Nam và bị các triều đại phong kiến Phương Bắc thay nhau đô hộ trong thời gian rất dài (được sử sách ghi là “hơn 1.000 năm”). Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến t́nh trạng hận thù sâu sắc giữa hai quốc gia dân tộc mà trong đó người Trung Quốc thường nh́n người Việt Nam bằng con mắt miệt thị trong khi người Việt Nam luôn cảm thấy lo lắng, bất an trước sự khôn ngoan, lắm mưu sâu, kế hiểm của đối phương. Quá tŕnh đó cho ta ít nhất là 3 kinh nghiệm dưới đây:
Một là, mỗi khi Vương triều Phương Bắc thống nhất và mạnh lên th́ họ đem quân sang chinh phạt Việt Nam. Cuộc xâm lược quy mô lớn đầu tiên diễn ra năm 218-208 TCN giữa thời kỳ hoàng kim của Nhà Tần. Hầu hết các cuộc xâm lược sau này cũng đều diễn ra vào những thời cực thịnh của các vương triều Phương Bắc. Đôi khi trong những cơn giận dữ, họ cũng mang quân “đánh hàng xóm”, như trường hợp chiến tranh biên giới năm 1979 mà nhà Lănh đạo Đặng Tiểu B́nh tuyên bố “để dạy cho Việt Nam một bài học”. Trong mấy chục năm gần đây, hễ có cơ hội là họ “đánh lớn, đánh nhỏ” nhằm lấn chiếm biên giới và biển đảo của Việt Nam.
Lịch sử cho thấy dẫu thắng thua th́ bờ cơi nước Việt Nam cũng bị dồn đẩy về phía Nam. Và cho đến ngày hôm nay chưa có cơ sở ǵ để khẳng định rằng điều này sẽ không lặp lại.

(Bản đồ minh họa cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc qua biên giới phía Bắc Việt Nam năm 1979- nguồn Wikipedia )
 
Hai là, kẻ thù thường triệt để “khai thác”những thời điểm có bất ḥa, bất ổn trong nội bộ Việt Nam để khởi binh xâm lược. Nhưng hễ khi nào bị xâm lược, người Việt Nam đều gác lại những bất ḥa bất ổn trong nội bộ để tập trung chống kẻ thù chung.
Thiết nghĩ, là dân nước Việt không ai có quyền phủ nhận truyền thống anh hùng chống ngoại xâm. Nhưng cũng nên nhận ra rằng phải kháng chiến là một sự lựa chọn bất đắc dĩ không nên có, bởi lẽ các chu kỳ chiến tranh lặp đi lặp lại quá nhiều ắt để lại những thiệt tḥi truyền kiếp đối với cả dân tộc.
Vậy nên có một lựa chọn tốt hơn là phải chủ động thực hiện “pḥng ngừa từ xa” bằng cách không tạo ra cơ hội hấp dẫn đối với giặc ngoại xâm. Đó là tập trung xây dựng hệ thống chính quyền trong sạch vững mạnh, bài trừ tệ nạn quan liêu, tham nhũng, bè phái, tranh chức, tranh quyền và mọi thói hư tật xấu trong hệ thống công quyền, trên cơ sở đó sẽ luôn giữ vững khối đoàn kết toàn dân và phát triển đất nước giàu mạnh. Đó là phương sách thích hợp và cần thiết đối với một nước ở vị thế như nước ta
Ba là, dù thắng, bại các nhà nước Việt Nam chưa bao giờ thực sự tách khỏi “ṿng cương tỏa” của cường quốc láng giềng Phương Bắc.
Lịch sử cho thấy không chỉ lúc thua mà cả lúc thắng các triều đại Việt Nam vẫn thực hiện nghĩa vụ triều cống đối với nước láng giềng Phương Bắc, coi đó như một cử chỉ cầu ḥa và chấp nhận chung sống lâu dài với họ. Có thể nói điều này đă trở thành một “quốc sách” của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên có điều trớ trêu là, phía đối phương chưa hề tỏ ra biết trân trọng quốc sách ḥa hảo, phục thiện đó của dân tộc ta, trái lại c̣n coi đó là cử chỉ yếu hèn, nhu nhược***.
Thiết nghĩ, trong hoàn cảnh khu vực và quốc tế ngày nay, người Việt Nam cần suy ngẫm lại về cái triết lư bạn/ thù và đồng minh, để từ đó có sự điều chỉnh hợp lư nhằm thay đổi cục diện bất lợi cho ḿnh, trong đó cũng nên tính đến cả câu ngụ ngôn xuất xứ từ Trung Quốc: “Người không thay đổi th́ ta phải thay đổi”.
Đồng thời hăy suy ngẫm về ba điều thực tiễn: a) Dân tộc Việt Nam được và mất ǵ nếu cứ quẩn quanh trong ṿng ảnh hưởng của Trung Quốc?; b) Tại sao người Việt học tập và làm việc trong môi trường Âu - Mỹ th́ năng lực bao giờ cũng được phát huy tốt hơn ? c) Vẫn biết mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản đều có thể tồn tại độc lập và phát triển vượt bậc; tại sao Việt Nam chưa làm được điều đó?
Đây cũng chính là vấn đề mà các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và các thế hệ đi trước đă đặt ra nhưng chưa giả quyết rốt ráo được. Phải chăng là do năo trạng người Việt lúc nào cũng ám ảnh nỗi mặc cảm của ngàn năm Bắc thuộc, cho "ḿnh từ họ mà ra" và lúc nào cũng chờ đời xem họ làm ǵ mà không dám chủ động vượt lên trước họ?
Dù sao giờ đây người Việt lại một lần nữa có quyền hy vọng dân tộc sẽ bứt phá để làm được điều mà bao thế hệ chưa làm được.

T.K.N

Tài liệu tham khảo:
- Bách khoa toàn thư mở-Wikipedia với nhiều kiên kết dẫn đến các nguồn khác nhau
- Đại Việt Sử Kư Toàn Thư
- Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim
- Bộ sách giáo khoa môn sử học phổ thông của Nhà XB Giáo Dục Việt Nam.
- Các website và blog có đăng bài viết “Lịch sử cần sự thật”trên Google
Ghi chú:
*(Trích đoạn trả lời của Hưng Đạo Vương : "Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dă, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam (thuộc lănh thổ Trung Quốc ngày nay), c̣n đoản binh th́ đánh úp phía sau. Đó là một thời.”…. (Xem thêm tại Wikipedia phần nói về Trần Hưng Đạo)
**Xem thêm tại Website Ḍng họ Đỗ Viêt Nam, bản tin ngày 9/2/2011
*** tham khảo các bài viết của nhà nghiên cứu Dương Danh Di, của cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh, phát biểu của cựu lănh tụ Đặng Tiểu B́nh, phát biểu của Giáo sư Vương Hành Lĩnh. Tham khảo Chuyện cổ Việt Nam; một số bài viết của các tác giả nước ngoài;câu chuyện sử liệu nói Tôn Trung Sơn là người Bách Việt.

MƯỜI MỘT NƯỚC CÓ NGUY CƠ TRỞ THÀNH AI CẬP KHÁC
Như Thanh
 
Nhân loại vui trong cùng một niềm vui của nhân dân Ai Cập. Pháo bông không chỉ bắn lên từ quảng trường Tahrir tự do nhưng cũng được bắn lên ở các nước Phi châu và bắn lên từ trái tim của hàng triệu người Việt Nam. Ảnh hưởng của cách mạng Ai Cập rộng lớn đến nổi Giáo sư xă hội học Hasan Yahya đă ví cách mạng dân chủ Ai Cập 2011 tương đương với cách mạng Pháp 1789 v́ cả hai đă mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người …
- Cơn thủy triều dân chủ đang dâng cao trên khắp thế giới hiện nay là bước phát triển khoa học trong quá tŕnh tiến hóa của loài người. Các cố gắng của các nhà độc tài, các đảng độc tài chỉ để tạm thời xoa dịu làn sóng công phẫn trong nhân dân nhưng chính họ cũng hiểu chân lư thời đại: dân chủ là văn minh, độc tài là lạc hậu. Những phân tích dưới đây dựa theo danh sách của kư giả Gregory White, Business Insider 11 nước có nguy cơ trở thành Ai Cập khác (11 Countries At Risk Of Becoming The Next Egypt):

 
Moroco: Morocco theo chính thể quân chủ lập hiến trong đó nhà vua là lănh đạo quốc gia nhưng bị chi phối bởi hiến pháp. Trong số các quốc gia vùng Bắc Phi, Morocco là nước đă có nhiều cải thiện chính trị trong những năm vừa qua. Tuy nhiên nạn thất nghiệp 25% trong thế hệ những người vừa tốt nghiệp đại học, và 9.1% trong lực lượng lao động nói chung, đang là một mối lo rất lớn cho vua Mohammed Đệ Tứ và chính phủ. Nếu t́nh trạng lạm phát không được kiểm soát và t́nh trạng thất nghiệp không được giải quyết, khả năng bộc phát một cuộc cách mạng dân chủ toàn diện có thể diễn ra tại vương quốc 32 triệu dân này.
Jordan: Giống như Morocco, Jordan cũng là quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến. Vua Abdullah Đệ Nhị bin al-Hussein cai trị quốc gia này từ sau cái chết của vua cha Hussein vào 1999. Dân số Jordan vào khoảng 6 triệu theo thống kê 2009. T́nh trạng lạm phát tại Jordan hiện nay là 6.1% và thất nghiệp toàn quốc tại mức 14%. Một mối lo ngại của nhà vua là có đến 40% dân số Jordan dùng Internet rất tích cực. Hưởng ứng các cuộc biểu t́nh tại Tunisia trước đây, nhân dân Jordan cũng đă đứng lên. Vua Abdullah phản ứng bằng cách giải tán chính phủ và hứa thực hiện các cải cách kinh tế cấp bách để mong làm dịu sự bất măn trong dân chúng. Theo giới quan sát chính trị, nếu vua Abdulla không thực hiện các cải cách như đă hứa một cách kịp thời, số phận của vương quốc này không biết sẽ ra sao.
Syria: Trong hai tuần qua, Bashar al-Assad, nhà lănh đạo độc tài xứ Syria như ngồi trên than đỏ. T́nh trạng nhân quyền tại Syria c̣n tệ hại hơn Ai Cập nhiều. Sau khi Assad cha qua đời vào tháng Sáu 2000, quốc hội bù nh́n Syria đă thay đổi hiến pháp, hạ mức tuổi để cho phép Bashar al-Assad khi đó mới 34 tuổi lên làm Tổng Thống và lănh đạo đảng Ba’ath cầm quyền. Bashar al-Assad đắc cử tổng thống lần nữa không có đối thủ với tỉ lệ 97.6% tổng số phiếu bầu. Một tỉ lệ rất quen thuộc với cử tri Việt Nam. Hai tháng qua, giới trẻ tại Syria rục rịch đứng lên đ̣i dân chủ. Các thành viên Facebook và Twitter cung cấp tin tức sốt dẻo cho tuổi trẻ khắp nơi. Họ dự tính tổ chức các ngày tập hợp chống chính phủ được gọi là Ngày Thịnh Nộ (Day of Rage) tại Syria. Theo các quan sát viên chính trị, Syria là một trong những mục tiêu hàng đầu của phong trào dân chủ Bắc Phi hiện nay.
Saudi Arabia: Không giống như trong chế độ quân chủ lập hiến, chế độ quân chủ tại vương quốc dầu hỏa này là quân chủ tuyệt đối. Không có đảng phái chính trị nào được phép hoạt động. Hoàng gia, đông đến 25 ngàn người, nắm giữ hầu hết các chức vụ quan trọng trong chính phủ. Hoàng gia Saudi Arabia nhiều lần bị các tổ chức nhân quyền quốc tế lên tiếng tố cáo t́nh trạng tham ô và lạm quyền tại nước này. Vua Abdullah bin Abdul-Aziz của Saudi Arabia là một ông vua già nua, bịnh hoạn, bảo thủ và là người đang dung dưỡng nhà độc tài Ben Ali của Tunisia. Vua Abdullah phản ứng giận dữ trước làn sóng cách mạng tại Ai Cập và kết án những người biểu t́nh là “những kẻ xâm nhập”. Các lực lượng chống đối hoàng gia Saudi Arabia đang ngấm ngầm hoạt động khắp nơi và đe dọa chiếc ngai vàng của vua Abdullah.
Iran: Iran là một nước Cộng Ḥa Hồi Giáo với Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad được dân bầu một cách dân chủ. Tuy nhiên, chế độ gọi là dân chủ tại Iran không thể xác định rơ ràng dân chủ theo kiểu nào v́ quốc gia này trên thực tế đặt dưới sự lănh đạo bởi Lănh Tụ Tối Cao Ali Khamenei, không những có quyền tuyệt đối về tôn giáo mà cả chính trị. T́nh trạng thất nghiệp tại Iran rất cao, 14.6%. Mặc dù chính phủ t́m cách ngăn chận, số thành viên Twitter và Facebook mỗi ngày một tăng nhanh. Những cuộc biểu t́nh của giới trẻ trong lần bầu cử tổng thống mới đây phần lớn được điều động qua Facebook và Twitter. Cho đến nay, chính phủ Iran thành công trong việc trấn áp các cuộc nổi dậy, tuy nhiên nếu mức độ lạm phát 13.5% tiếp tục gia tăng, khả năng một cuộc bùng nổ toàn diện sẽ xảy ra.
Libya: Libya là quốc gia chịu đựng dưới bàn tay sắt của Muammar al-Gaddafi. Nguồn lợi tức thu nhập chính của Libya là dầu hỏa. Mức thất nghiệp 30% hiện nay tại Libya được xem là một trong những nước có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất vùng Bắc Phi. Libya nằm ngay giữa Ai Cập và Tunisia, hai quốc gia đă phát khởi cách mạng dân chủ thành công. Muammar al-Gaddafi lo ngại cách mạng sẽ tràn qua biên giới bất cứ lúc nào. Nguy hiểm hơn nữa, gần 80% trong dân số 6 triệu của Libya sống tập trung tại các khu vực đô thị đông đúc nhưng không có công ăn việc làm. Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế mới đây tố cáo nhà cầm quyền Libya đă bắt giam nhà văn Jamal al-Hajji sau khi ông gởi lên Internet một lời kêu gọi dân chúng Libya biểu t́nh chống độc tài. Các cuộc biểu t́nh nhỏ đă bùng nổ tại các thành phố Darnah, Benghazi, Bani Walid. Hiện nay, Muammar al-Gaddafi chưa tỏ ra quá cứng rắn v́ muốn đo lường thái độ của dân chúng. Với t́nh trạng thất nghiệp 30% như hiện nay, dù cứng rắn hay không, ngày tàn của chế độ độc tài Muammar al-Gaddafi chỉ là vấn đề thời gian.
Yemen: Nạn thất nghiệp tại Libya tuy cao nhưng không phải là cao nhất. Yemen có mức thất nghiệp cao đến 40% và lạm phát 5.4%. Yemen với 28 triệu dân, là quốc gia nghèo nhất và chậm phát triển nhất của bán đảo Á Râp. Yemen trên danh nghĩa là một nước cộng ḥa với tổng thống Ali Abdullah Saleh được bầu trong cuộc tuyển cử khá trong sạch vào 2006, nhưng nhiều quan sát viên quốc tế xem Yemen là một nước thiếu an ninh nhất. Yemen là nơi trú ẩn của các phần tử thuộc tổ chức khủng bố Al Qaeda. Trở ngại chính để phát triển Yemen không phải v́ nghèo khó mà thôi mà c̣n v́ t́nh trạng tham nhũng trầm trọng trong cơ chế lănh đạo. Ảnh hưởng từ làn sóng cách mạng tại Tunisia, khoảng 10 ngàn người đă biểu t́nh tại thủ đô Sana. Không giống như các cuộc biển t́nh tương đối ôn ḥa tại Ai Cập, cuộc cách mạng tại Yemen có thể dẫn đến đổ máu v́ rất nhiều người tham gia biểu t́nh có vơ trang.
Pakistan: Pakistan là quốc gia Cộng ḥa Hồi giáo nhưng người dân luôn sống trong bất an, đe dọa. Tuy chia xẻ rất nhiều thăng trầm với các nước Hồi Giáo châu Phi nhưng Pakistan là quốc gia nằm phía Nam Á. Mức lạm phát hiện nay tại Pakistan là 15% và mức thất nghiệp theo thống kê năm 2010 là 14%. Chính phủ của Thủ Tướng Yousaf Raza Gillani đă tỏ ra yếu kém trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế như đă chứng minh trong trận lụt vừa qua. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008, Pakistan phải vay từ các nguồn tài chánh quốc tế hơn 100 tỉ đô la để cứu văn nền kinh tế. Quân đội Pakistan, lớn thứ bảy trên thế giới, đóng vai tṛ quan trọng trong việc duy tŕ sự ổn định nhưng nếu t́nh trạng kinh tế tiếp tục đi xuống, các phong trào chống chính phủ ở mức độ rộng lớn có thể sẽ bùng nổ. Lưu ư, trong hơn nửa phần sau của thế kỷ thứ 20, Pakistan là quốc gia đă trải qua nhiều kinh nghiệm đảo chánh đẫm máu.
Venezuela: Quốc gia có tên đầy đủ là Cọng Ḥa Bolivarian Venezuela, Nam Mỹ. Tổng thống Hugo Chávez đang lănh đạo Venezuela trên cơ sở của một liên kết các đảng tả phái, trong đó có cả đảng Cộng Sản Venezuela . Là một quốc gia có công nghiệp dầu hỏa phát triển cao và chiếm một phần ba Tổng Sản Lượng Nội Địa nhưng 30% dân số Venezuela sống dưới mức 2 đô la một ngày. Dầu hỏa tại Venezuela là nguồn lợi kinh tế chính nhưng cũng là nguồn gốc cho t́nh trạng tham nhũng có truyền thống tại Venezuela. Chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions Index) năm 2010 xếp Venezuela vào hạng 164, tức nhóm 15 nước tệ hại nhất trong 178 quốc gia được đánh giá. T́nh trạng lạm phát hiện nay cao đến mức 27.2% và thất nghiệp 8.1%. Một số nhà phân tích cho rằng Venezuela không chỉ phải đối diện với cách mạng dân chủ trong nước thôi mà, với chính sách chống Mỹ hiện nay của tổng thống Hugo Chávez, Venezuela c̣n đối diện với viễn ảnh trở thành một Chile thời Allende khác.

Suy thoái kinh tế có thể dẫn tới việc chống đối sự cai trị của cộng sản tại Việt Nam
Việt Nam: Việt Nam là một trong năm quốc gia c̣n sót lại của chủ nghĩa toàn trị Mác Lenin đă mờ vào quá khứ tại châu Âu. Mặc dù cơ chế nhà nước về h́nh thức có ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhưng lănh đạo của cả ba ngành đều cùng một đảng. Tệ hại hơn Ai Cập, tại Việt Nam, mọi quyền tự do căn bản như ngôn luận, hội họp, tôn giáo, báo chí đều bị ngăn cấm. Tổ chức liêm chính toàn cầu ( Global Integrity) xếp Việt Nam vào hạng “Nghèo” trong bảng đánh giá được công bố năm 2009. Và cũng tệ hại hơn Ai Cập, tại Việt Nam, t́nh trạng tham nhũng, con ông cháu cha trong cơ chế chính trị vô cùng trầm trọng. Chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions Index) xếp Việt Nam vào hạng 116 trong 178 quốc gia và với chỉ số 2.7 trên 10, trong khi đó Ai Cập được xếp hạng 98 và chỉ số 3.1. Đứng cùng hạng thứ 116 với Việt Nam là ba quốc gia nghèo nhất Phi Châu Ethiopia, Guyana và Tanzania.
Trung Quốc: Giống như Việt Nam, vận mệnh Trung Quốc nằm trong tay của một đảng chính trị độc tài toàn trị. Trung Quốc hiện có mức thất nghiệp thấp nhưng đang đối phó với t́nh trạng lạm phát gia tăng. Giá cả thực phẩm tăng quá cao gây bất măn trong các tầng lớp nhân dân. Các chuyên viên kinh tế ước lượng một công nhân Trung Quốc trung b́nh phải dành một nửa tiền lương để mua thức ăn. Trung Quốc có tất cả yếu tố để cách mạng dân chủ bùng nổ ngoại trừ thất nghiệp. Sau 20 năm tung toàn bộ lực lượng lao động rẻ mạt để thao túng nền kinh tế thế giới, kinh tế Trung Quốc đang chậm lại theo quy luật. Giống như chính sách Nhật Bản xâm thực Trung Quốc để thỏa măn nhu cầu nguyên liệu trong đầu thế kỷ 20, Trung Quốc đang mở rộng chính sách xâm thực kiểu mới sang Phi Châu. Trung Quốc không có đồng minh kinh tế lẫn chính trị để làm đối lực cho trục liên kết Mỹ-Nhật-Ấn dân chủ. Trong thời gian cách mạng dân chủ bùng nổ tại Trung Đông, Trung Quốc khóa chặt các cánh cửa thông tin v́ sợ tinh thần Thiên An Môn sống dậy trong tuổi trẻ.
Hai chục năm trước, những ǵ đang xảy ra tại Bắc Phi có lẽ không gây ảnh hưởng nhiều đến Venezuela hay Việt Nam. Nhưng thế giới đă đổi thay và đang từng bước toàn cầu hóa. Hai tuần nay, hàng triệu người sống trong các chế độ độc tài trên thế giới say mê theo dơi những ǵ tuổi trẻ Ai Cập đang làm. Nhân loại vui trong cùng một niềm vui của nhân dân Ai Cập. Pháo bông không chỉ bắn lên từ quảng trường Tahrir tự do nhưng cũng được bắn lên ở các nước Phi châu và bắn lên từ trái tim của hàng triệu người Việt Nam. Ảnh hưởng của cách mạng Ai Cập rộng lớn đến nổi Giáo sư xă hội học Hasan Yahya đă ví cách mạng dân chủ Ai Cập 2011 tương đương với cách mạng Pháp 1789 v́ cả hai đă mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người.
http://danlambao1.wordpress.com

ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG TRƯỜNG HỢP AI CẬP
Lư Thái Hùng
Nhiều người bắt đầu sốt ruột về những diễn biến chính trị đang xảy ra tại Ai Cập khi chưa thấy ông Mubarak ra đi như ông Ben Ali bên Tunisia; trong khi đó, tân Phó Tống Thống Omar Suleiman, vừa mới được ông Mubarak bổ nhiệm lại xúc tiến những cuộc đàm phán với các nhóm chống đối để thương lượng về các biện pháp ổn định t́nh h́nh. Một số dư luận đă quan ngại rằng cuộc nổi dậy của người dân Ai Cập có thể sẽ bị bán đứng hoặc dẫn đến một kết quả chính trị tồi tệ là phe nhóm của ông Mubarak tiếp tục cầm quyền mặc dù ông ta sẽ phải ra đi sau những “thương lượng” chính trị hiện nay.

Feiernde, Demonstranten, Jubelnacht, Kairo, Zehntausende, Arbeiter, Gewerkschaften, Protest, Tahrir-Platz, Streiks
 
Những sốt ruột và quan ngại về các diễn biến chính trị tiêu cực nói trên không phải là không có nguyên do, nhưng nếu hiểu rơ những đặc tính của đấu tranh bất bạo động, th́ sự quan ngại này sẽ không có. Các diễn biến trong mấy ngày qua tại Ai Cập, chỉ là những thế trận được phe chống đối và phe chính quyền Mubarak tung ra hầu giành thế thượng phong trước công luận. Sự kiện phe chính quyền phải thuê một số người xuống đường ủng hộ Mubarak và tấn công bằng bạo lực đối với quần chúng tay không tại Quảng Trường Tahrir (Quảng Trường Giải Phóng) vào sáng ngày 3 tháng 2 cho thấy sự tuyệt vọng của phe chính quyền trước sự án binh bất động của quân đội và làn sóng biểu t́nh ngày một dâng cao. Hoặc việc tân Phó Tổng Thống Omar Suleiman mở các cuộc đối thoại với những nhóm chống đối chỉ là kế sách câu giờ.
Nh́n vào những diễn biến chính trị trong hơn 2 tuần lễ vừa qua, đặc biệt là từ những cuộc tụ tập kéo dài liên tục với sự tham gia của hàng trăm ngàn người tại Quảng Trường Tahrir, cho thấy là nhóm chống đối đă nắm rất vững 5 đặc tính của đấu tranh bất bạo động để điều hướng quần chúng. Đó là Số Đông, Công Khai, Quyết Liệt, Thương Lượng, Kỷ Luật.
Trước hết là về số đông, các nhóm chống đối đă không những thành công trong việc huy động số đông mà họ c̣n duy tŕ được sự tham gia biểu t́nh một cách liên tục trong suốt 2 tuần lễ kể từ ngày 25 tháng 1 năm 2011. Theo những tiết lộ gần đây của những người đại diện của hai nhóm chống đối trong Phong trào Trẻ 6 tháng 4 và đảng Ghad th́ lúc đầu họ chọn ngày 25 tháng 1, tổ chức một cuộc mít tinh tại Quảng trường Tahrir để tưởng niệm sinh viên Khaled Said, bị công an Ai Cập đánh chết vào mùa Hè năm ngoái. Họ chọn ngày 25 tháng 1 để tổ chức mít tinh v́ đây là “Ngày Của Công An” do chế độ Mubarak ấn định, do đó dễ tạo sự chú ư của công luận; nhưng họ ước tính nếu quy tụ được 200 người tham dự là thành công. Trong lúc chuẩn bị, biến cố chính trị tại Tunisia bùng nổ, ban tổ chức đă nhanh chóng khai thác biến sự Tunisia sản xuất hàng loạt các youtube, truyền đơn gửi qua Facebook và Twitter để kêu gọi thanh niên sinh viên tham gia. Kết quả là hàng trăm ngàn người đă túa xuống đường đổ về Quảng trường Tahrir, khởi đầu cho cuộc nổi dậy sau 30 năm sống trong sự áp bức của chính quyền Mubarak. Phong trào Trẻ 6 tháng 4 và các nhóm sinh viên đă rút kinh nghiệm từ sinh viên Tunisia, khai thác tối đa Facebook và Twitter để chuyển các thông điệp vận động, nhờ vậy mà trên đường phố lúc nào cũng có đông đảo người tham gia biểu t́nh.
 
Kế đến là về công khai, các nhóm chống đối đă chọn một mục tiêu duy nhất là hạ bệ Mubarak và chọn Quảng trường Tahrir làm nơi tụ họp để đưa ra những yêu sách đấu tranh. Song song, để giúp cho những người tham gia biểu t́nh đều có cùng những hành động giống nhau hoặc có thể tự đối phó trước các cuộc đàn áp của công an và quân đội, ban tổ chức đă thực hiện một tài liệu bỏ túi khoảng 28 trang có tiêu đề là “Làm thế nào để phản đối khôn ngoan” (How to Protest Intelligently) hướng dẫn chi tiết về những hành động và công việc mà người tham gia biểu t́nh cần làm như: Những khẩu hiệu cùng hô; những bài nhạc cùng hát; những địa điểm cùng tụ họp. Hay là không tiết lộ danh tánh, nơi cư ngụ cho bất cứ ai trong đoàn biểu t́nh hầu ngăn ngừa bọn mật vụ của chế độ trà trộn khai thác; không mang những loại giày da mà chỉ nên mang loại giày thể thao; mặc những loại áo choàng có mũ trùm đầu để chống hơi cay; mang theo găng tay bằng da để bảo vệ tay hầu chống lại những loại bom nhiệt của cảnh sát. Hoặc hướng dẫn việc sử dụng Coca-Cola để chống lại hơi cay. Mỗi người mang theo Hoa Hồng để bày tỏ cuộc biểu t́nh ôn ḥa….
Kế đến là về quyết liệt, các nhóm chống đối đă thống nhất một chủ trương là không chấp nhận bất cứ sự thay đổi quyền lực nào tại Ai Cập khi c̣n ông Mubarak tại vị, mặc dù ông ta nói rằng sẽ không ra tái tranh cử vào tháng 9. Ông Mubarak đă cho thay đổi hàng loạt bộ trưởng kể cả việc để đứa con trai của ḿnh từ nhiệm chức Tổng thư kư đảng cầm quyền; nhưng các nhóm chống đối không chấp nhận, đ̣i Mubarak phải từ nhiệm và ra đi vô điều kiện. Chính sự quyết liệt này đă làm cho kế sách thương lượng của tân Phó Tổng thống Omar Suleiman không đạt kết quả v́ những người biểu t́nh tại Quảng trường Tahrir tuyên bố rằng họ sẽ chỉ đi về nhà khi nào ông Mubarak ra đi.
Hôm Chủ Nhật ngày 6 tháng 2, Phó Tổng thống Omar Suleiman đă có một cuộc gặp chính thức giữa đại diện chính quyền với các nhóm chống đối. Phía chính quyền th́ ngoài ông Omar Suleiman c̣n có ông Hossam Badraway, Tổng thư kư đảng cầm quyền (Đảng Dân Chủ Quốc Gia). Phía chống đối có Tiến sĩ El-Sayed El-Baradei, đại diện đảng đối lập Walid; ông Naguih Sawiris, thành viên của Ủy ban Thông thái (Member of the Wise men Committee); và ông Mohamed Morsi, phát ngôn nhân của Tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo. Trong khi đó, đảng Ghad, Phong trào Trẻ 6 tháng 4 và nhiều Đoàn thể xă hội khác – được coi là những lực lượng ṇng cốt tổ chức và điều hành các cuộc biểu t́nh chống chính quyền Murabak – đă từ chối tham gia các cuộc họp thương lượng với chính quyền. Lư do là trong đấu tranh bất bạo động, thương lượng chỉ là giải pháp gỡ bí của thiểu số lănh đạo độc tài mà thôi.
Khi các nhóm chống đối chủ động và cứng rắn trong những đ̣i hỏi leo thang để từng bước đẩy chế độ độc tài rơi vào t́nh thế tiến thoái lưỡng nan, kinh nghiệm cho thấy là hầu hết các lănh đạo độc tài đều t́m cách gặp gỡ phe chống đối để thương lượng qua những cuộc đối thoại gián tiếp hay trực tiếp về tương lai của chế độ. Trong phản kháng chính trị, thương lượng không thể được chọn là một giải pháp. Lư do là khi đă kiểm soát toàn thể xă hội và giữ chặt quyền lực cai trị trong nhiều thập niên dài, giới lănh đạo độc tài không bao giờ muốn chia quyền lực cho bất cứ ai, bất cứ phe nhóm nào dù là bị đẩy ở thế phải đối thoại với lực lượng chống đối. Khi cuộc đấu tranh rơi vào những hoàn cảnh này, các nhóm chống đối phải coi chừng những cuộc gài bẫy nguy hiểm mà chế độ độc tài dựng ra để triệt tiêu tư thế chính trị của lực lượng dân chủ hoặc để thủ tiêu những kẻ muốn đi đường tắt.
Sau cùng là về kỷ luật, các nhóm chống đối đă kêu gọi người đi biểu t́nh mang theo Hoa Hồng và nước uống. Hoa Hồng để tặng cho quân đội, nước uống để giúp nhau giải khát. Chính những nỗ lực tối thiểu của từng người đă tạo ra sự cảm thông và nhất là nhờ sự hướng dẫn cụ thể của 28 trang tài liệu từ ban tổ chức đă giúp người tham gia biểu t́nh trở thành một khối. Khi nhóm người được phe chính quyền thuê dùng bom xăng, gạch đá và dao tấn công vào đoàn biểu t́nh tại Quảng Trường Tahrir vào ngày 3 tháng 2, đa số người biểu t́nh đă không tấn công trở lại mà t́m cách quây quần để bảo vệ nhau cho đến khi quân đội vào can thiệp. Hiện nay con số thương vong tại Ai Cập lên đến hơn 300 người, nhưng đó không phải là con số thương vong do các cuộc biểu t́nh gây ra mà là do “lạc đạn” và những xô xát xảy ra tại các văn pḥng chính phủ.
Những diễn biến chính trị tại Ai Cập ngày một trở nên phức tạp khi phe chính quyền muốn kéo dài thời gian tại vị của ông Murabak đến tháng 9 để vừa giữ thể diện cho ông ta, vừa tạo sự chán nản bỏ cuộc của lực lượng biểu t́nh. Ai cũng thấy rơ thủ đoạn này của ông Mubarak khi bổ nhiệm tân Phó Tổng Thống Omar Suleiman đảm trách việc thương lượng cũng như chuẩn bị thay thế ông ta vào tháng 9 tới. Khi chúng ta hiểu rơ 5 đặc tính của đấu tranh bất bạo động mà phong trào đối kháng tại Ai Cập áp dụng, sẽ thấy rơ rằng các thủ đoạn nói trên của ông Mubarak chỉ dẫn đến thất bại mà thôi. Lư do là đa số những đoàn thể trẻ – lực lượng ṇng cốt của các cuộc biểu t́nh hiện nay – từ chối các cuộc thương lượng và họ tiếp tục cố thủ tại Quảng Trường Tahrir cho đến khi nào ông Mubarak ra đi.
Lư Thái Hùng
Ngày 9/2/2011

Tahrir-Platz, Kairo, Entsetzen, Jubel, Platz, Freitag, Mubarak, Abgang
Thứ Sáu, 11-2-2011: Công trường Tahrir đông nghẹt người biểu t́nh, ngay cả trước khi Mubarak tuyên bố từ chức

Feiernde, Demonstranten, Jubelnacht, Kairo, Spannung, Menschen, Rede, Präsidenten, Später, Enttäuschung
Vui mừng khi nghe tin Mubarak từ chức.
 

Hoa Kỳ có mặt ở Biển Đông hay không, Hoàng Sa, Trường Sa, Vịnh Bắc Việt cũng về tay Trung Cộng qua Luật Biển LHQ, nếu Việt Cộng c̣n cầm quyền
Tham luận tại Hội Luận Quốc Tế Biển Đông, do Hội Nghiên Cứu Quốc Tế Biển Đông tổ chức ở Wesminster, California, Hoa Kỳ, ngày 12-9-2010.
 
1
 
Lời Thưa
Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam, về phương diện lịch sử, địa lư, hành chính và pháp lư; hai quần đảo này đều nằm trọn trên thềm lục địa mở rộng của VN và theo Luật Biển LHQ th́ chủ quyền của nước ven biển đối với thềm lục địa là tuyệt đối. Trung Cộng biết rơ điều này hơn ai hết v́ nếu không, Trung Cộng đâu cần phải dùng vơ lực xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, vừa vi phạm Hiến Chương LHQ và Công Pháp Quốc Tế, vừa sớm muộn ǵ cũng sẽ phải trả lời trước Toà Án Quốc Tế về hành vi xâm lược này. Mặt khác, nếu công hàm ngày 14-9-1958 Việt Cộng giao Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Cộng mà có “giá trị pháp lư” th́ Trung Cộng cũng đă đem vấn đề chủ quyền hai quần đảo này ra trước Toà Án Quốc Tế rồi chứ đâu có để yên cho vài “tiểu quốc” dám “chiếm đóng” đảo, băi của Trung Cộng rồi đàm phán song phương với đa phương vào lúc mà “thiên triều” hung hăng điên cuồng và thèm muốn Biển Đông như lúc này ?
Giới trí thức hay nghiên cứu đứng đắn Trung Quốc cũng biết rơ công hàm 14-9-1958 Việt Cộng là bất hợp pháp như Tiến Sĩ Lo Chi-Kin từng thú nhận : “Bắc Kinh không bao giờ dám đưa những tranh chấp về hải đảo tại Biển Đông ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế.” [1] Giới cầm quyền ở Trung-Nam-Hải càng biết rơ như vậy nên mới phải thúc ép Hà Nội bày ra việc phân định lại Vịnh Bắc Việt kư hiệp ước ngày 25-12-2000 khiến VN mất 20.000km2 vùng Vịnh Bắc Việt, bao gồm cả Hoàng Sa. Nhưng công hàm 14-9-1958 th́ vẫn vô hiệu mà hiệp ước 25-12-2000 th́ phải dấu kín v́ VN thua thiệt quá nhiều không dám công bố, nên nhân việc LHQ cho mở rộng thềm lục địa ngoài 200 hải lư, Hà Nội đă nộp LHQ hai hồ sơ ngày 6 và 7-5-2009, với lư do mở rộng thềm lục địa VN nhưng thực ra là giới hạn ở 200 hải lư để gạt Hoàng Sa, Trường Sa ra ngoài hải phận VN với ư đồ giao cho Trung Cộng qua Luật Biển LHQ.
Trước và sau khi nộp hai hồ sơ cho LHQ, để che dấu gian ư và đánh lạc hướng dư luận, Hà Nội đă tung đủ thứ tin tức xung quanh vấn đề Biển Đông và tổ chức Hội Thảo, không ngoài mục đích tung hỏa mù để mọi người không chú ư tới hai cái hồ sơ vô cùng tai hại cho VN của Hà Nội. Ngày 10-12-2009, Hà Nội tổ chức Hội Thảo về Biển Đông ở Hà Nội và tuyên bố : “VN đă nộp báo cáo cho Ủy Ban Thềm Lục Địa để bảo vệ quyền của VN đối với thềm lục địa ngoài 200 hải lư.” [2] Sự thực trái ngược, theo học giả Vũ Hữu San, chuyên về Biển Đông : Nếu xem hải đồ do Hà Nội vẽ để nộp LHQ, chúng ta sẽ thấy : 3-4 biển Hoàng Sa nằm trong hải phận Trung Quốc; VN chỉ c̣n 1 đảo độc nhất là Tri Tôn trong số trên 100 đảo của nhóm Hoàng Sa; 4-5 biển Trường Sa không c̣n trong hải phận VN; VN chỉ c̣n đảo Trường Sa nổi và 2 đảo ch́m, trong số hơn 100 đảo nổi, ch́m của nhóm Trường Sa.” Sau Hội Thảo Biển Đông ở Paris ngày 27-2-2010 không thành, Hà Nội lại vừa mới bày trỏ Hội Thảo Biển Đông ở Phidelaphia, Hoa Kỳ, với sự tiếp tay của một vài “Việt kiều yêu nước” đến từ Âu châu, nên không ai ngạc nhiên khi nhân vật chủ chốt của Hội Luận Philadelphia đă trắng trợn xuyên tạc lịch sử trên BBC : “Không thể nói chắc rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam !”
Như thế, việc “hiến đất dâng biển” cho Trung Cộng để đền ơn và để được bảo kê cho việc toàn trị đất nước rơ ràng là chủ trương của Đảng CSVN từ hơn nửa thế kỷ nay. Chủ trương “bán nước cầu vinh” này hoàn toàn phù hợp với sách lược bành trướng của Đảng CSTH. Tập đoàn cầm quyền Hà Nội hiện nay đang làm nhiệm vụ hoàn tất hay “hợp pháp hoá” những ǵ hai Đảng đă thoả thuận ngầm hay kư kết bất hợp pháp mà thôi. Nói khác đi, Việt Nam sẽ mất Hoàng Sa Trường Sa và phần lớn Vịnh Bắc Việt về tay Trung Cộng qua Luật Biển LHQ nếu Việt Cộng c̣n tiếp tục cầm quyền. Những ǵ xảy ra lâu nay xung quanh vấn đề Biển Đông đều chỉ là những hoả mù để Hà Nội và Bắc Kinh hoàn tất sách lược của chúng mà thôi.
Do đó, xin đừng thổi phồng quá đáng vai tṛ Hoa Kỳ ở Biển Đông, đặc biệt là sau tuyên bố của bà Hillary Clinton ở Hà Nội ngày 24-7-2010 ? Đừng quên Hoa Kỳ nhập cuộc trước hết v́ quyền lợi của chính Hoa Kỳ ! Quyền lợi th́ Trung Cộng sẽ sẵn sàng “chia sẻ” v́ “của người phúc ta” và rốt cuộc chỉ VN là thua thiệt ! Hay cho dù có “thực tâm” và v́ những “ǵ ǵ” như bà Clinton đă nói th́ liệu Hoa Kỳ [và khối ASEAN] sẽ làm được ǵ khi Hoa Kỳ đứng ngoài [v́ không phải là thành viên Luật Biển LHQ], trong lúc Việt Cộng và Trung Cộng gần như “thao túng” Uỷ Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa là cơ quan có thẩm quyền thông qua hai hồ sơ Hà Nội về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt hay phần lớn Biển Đông ?
Người viết tin rằng bài viết dưới đây sẽ chứng minh được những nhận xét trên đây.
Thông Cáo của LHQ
Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa LHQ [Ủy Ban] kết thúc khoá họp thứ 24 về Thềm Lục Địa “mở rộng” [Extended Continental Shelf] ngoài 200 hải lư tại trụ sở LHQ, New York, ngày 11-12-2009. Thông Cáo [3] hay bản tường tŕnh rất dài của Ủy Ban [Statement of Commision CLCS-64] được phổ biến trên trang nhà “UNCLOS”, người viết xin tóm lược một số điều cần biết hay liên quan tới Biển Đông và Việt Nam dưới đây.
1. Ủy Ban cho biết đă nhận được 35 hồ sơ mới của 41 nước ven biển nộp cho khóa họp thứ 24, từ 10-8-2009 đến 11-9-2009. Tuy là khóa họp thứ 24 nhưng là khóa họp đầu tiên của Ủy Ban về thềm lục địa mở rộng, sau hạn kỳ nộp đơn 10 năm do LHQ qui định, tính từ 13-5-1999 đến 13-5-2009. Ủy Ban chưa giải quyết được ǵ về 35 hồ sơ mới này, trong đó có 2 hồ sơ của Hà Nội nộp ngày 6 và 7-5-2009.
Ủy Ban dành gần hết khoá họp để giải quyết 5 hồ sơ cũ [của Pháp, Barbados, Anh+North Ireland, Indonesia, Nhật] tồn đọng từ các khóa họp trước. Cả 5 hồ sơ này đều đă được các Tiểu Ban [Sub-Commission] thành lập từ các khóa họp cũ cứu xét và đề nghị khuyến cáo, nhưng Ủy Ban chỉ giải quyết dứt điểm được hồ sơ của Pháp. Bốn hồ sơ cũ c̣n lại, Ủy Ban có giải quyết được th́ sớm nhất cũng là năm 2010 hay 2011.
Tuy nhiên, Ủy Ban đă nghe đại diện 18 nước tŕnh bày về 15 hồ sơ mới xin “mở rộng” thềm lục địa, trong số này đại diện Hà Nội đă tŕnh bày về hồ sơ nộp ngày 6-5-2009 liên quan tới Nam Biển Đông và Trường Sa và hồ sơ ngày 7-5-2009 liên quan tới Bắc Biển Đông và Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt.
2. Về Thủ Tục Cứu Xét hồ sơ, muốn mở rộng thềm lục địa ngoài 200 hải lư, nước ven biển phải nộp hồ sơ cho Ủy Ban; hồ sơ gồm các bản đồ kỹ thuật với toạ độ và cách tính toạ độ để qui định đường ranh thềm lục địa ngoài 200 hải lư theo Luật Biển. Tổng Thư Kư LHQ phải thông báo bằng văn bản cho các nước hội viên Luật Biển khi nhận được hồ sơ và văn bản này cũng phải được phổ biến trên trang nhà UNCLOS.
Để giải quyết 1 hồ sơ, Ủy Ban trước hết phải chỉ định 1 Tiểu Ban gồm 7 người để xem xét. Tiểu Ban họp riêng khi xem xét hồ sơ và có thể yêu cầu nước nộp hồ sơ cung cấp thêm tài liệu hoặc thay đổi hồ sơ, nếu cần. Tiểu Ban phải cho nước liên hệ biết kết luận về hồ sơ của Tiểu Ban và phải đọc cho nước này biết các khuyến cáo [Recommendations] của Tiểu Ban trước khi đệ tŕnh Ủy Ban.
Trong lúc Ủy Ban hội họp để duyệt xét các khuyến cáo do Tiểu Ban đệ tŕnh, nước liên hệ có quyền tŕnh bày quan điểm của ḿnh về khuyến cáo của Tiểu Ban. Ủy Ban cũng có thể yêu cầu nước liên hệ thay đổi một phần hay toàn bộ hồ sơ cho phù hợp với Luật Biển LHQ. Nếu Ủy Ban không có ư kiến khác th́ khuyến cáo của Tiểu Ban sẽ là quyết định của Ủy Ban và quyết định này có giá trị chung quyết và ràng buộc nước liên hệ.
3. Ủy Ban hiện nay do Đại Hội Đồng các nước hội viên Luật Biển bầu ra ngày 15-6-2007, gồm 21 ủy viên, với nhiệm kỳ 5 năm, từ 16-6-2007 đến 15-6-2012. Như thế, Ủy Ban chỉ có thể thành lập tối đa 3 Tiểu Ban; do đó việc giải quyết hồ sơ rất chậm, thường mất nhiều năm. Hồ sơ của Brazil nộp ngày 17-5-2004, Ủy Ban giải quyết ngày 9-4-2008, mất 4 năm; hồ sơ Barbados nộp ngày 8-5-2008, Ủy Ban hẹn sẽ giải quyết vào năm 2010; hồ sơ Cuba nộp ngày 1-6-2009, Ủy Ban quyết định năm 2030 mới giải quyết, tức 20 năm nữa.
Như thế, nếu không có ǵ đặc biệt xảy ra, hai hồ sơ của Hà Nội có được Ủy Ban giải quyết cũng phải 5, 7 năm nữa, thời gian đủ để Trung Cộng xây dựng Hoàng Sa, Trường Sa thành các căn cứ đồ sộ và rất có thể c̣n trở thành các địa điểm du lịch quốc tế, đặt mọi việc vào “sự đă rồi” hay “thực tế lịch sử” rất khó giải quyết cho dù khi đó công lư có đứng về phía VN hậu cộng sản.
4. Tóm lại, Hà Nội ở lợi thế cầm quyền và hội viên Luật Biển LHQ nên đă được Ủy Ban thông qua hai hồ sơ bước đầu và Hà Nội cũng có quyền hay rất có thể đă sửa đổi hay thậm chí thay đổi toàn bộ hồ sơ sau khi nộp [nên mới được cứu xét dù bị phản đối lúc đầu]. Trong số 21 thành viên của Ủy Ban đương nhiệm [và quyền hành c̣n kéo dài tới năm 2012] có đại diện của Nga, Trung Cộng và Bắc Hàn, là một lợi thế khác của Hà Nội. Hà Nội biết rất rơ những điều trên đây và đang khai thác tối đa để hoàn tất những ǵ hai Đảng CS này đă thỏa thuận ngầm từ bao năm nay, cụ thể là Hà Nội đang toan tính bàn giao Hoàng Sa, Trường Sa và phần lớn Vịnh Bắc Việt cho Bắc Kinh qua chính Luật Biển LHQ.
Luật Biển LHQ và Biển Đông
1. Để có một nhận định chính xác về 2 hồ sơ của Hà Nội, trước hết cần lưu ư một số điều sau đây:
- Ngày 13-5-2009 là hạn kỳ chót để các nước ven biển nộp hồ sơ mở rộng thềm lục điạ đến tối đa 350 hải lư theo Luật Biển LHQ, không phải là ngày chót để xác định Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư.
- Việc Hà Nội bỏ phí suốt 10 năm [từ 13-5-1999 đến 7-5-2009] và chỉ c̣n vài ngày là hết hạn mới nộp 2 hồ sơ là một dấu hiệu cần phải lưu ư.
- Ai cũng biết hiện nay Đảng CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Đảng CSTH; do đó nếu không có sự đồng ư hay dàn dựng của Bắc Kinh th́ Hà Nội không khi nào dám nộp hồ sơ.
2. Theo Luật Biển LHQ, Vùng Đặc Quyền Kinh Tế rộng 200 hải lư thuộc chủ quyền tuyệt đối và đương nhiên của các nước ven biển, không cần phải đăng kư.
- Nếu xảy ra tranh chấp ở vùng này th́ có thể nhờ Toà Án Quốc Tế Hamburg hay Toà Án Quốc Tế La Hague phân xử hoặc đưa ra trước Hội Đồng Bảo An LHQ nếu có xâm lăng.
- Hà Nội kư Luật Biển ngày 10-12-1982, phê chuẩn ngày 25-7-1994, tức rất sớm tất biết rơ như trên. Khi Trung Cộng lấn chiếm Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư, bắn giết ngư dân VN hành nghề hợp pháp trong vùng và xâm lăng Trường Sa, Hà Nội có trách nhiệm phải đưa vấn đề ra trước các cơ quan thẩm quyền để phân xử, trừ khi đă thỏa thuận ngầm với Bắc Kinh nên Trung Cộng mới lộng hành như vậy.
- Luật Biển LHQ rất phức tạp, ngoài 320 điều khoản, 9 phụ bản, c̣n có những thoả thuận riêng. Việc ǵ Luật Biển LHQ không qui định th́ giải quyết theo tập tục và qui tắc tổng quát của Luật Quốc Tế.
3. Biển Đông rộng gần 1 triệu 100 ngàn hải lư vuông, Vịnh Bắc Việt chiếm hơn 1-3 diện tích Biển Đông, VN nằm sát bên Biển Đông và bờ biển dài 3,260 km, trải qua 13 vĩ độ, từ vĩ độ 21 N đến vĩ độ 8 N.
- V́ bờ biển VN rất dài [so với diện tích đất liền] nên Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư của VN có diện tích gần gấp 2 diện tích 329,600 km2 đất liền.
- Nếu Thềm Lục Địa VN mở rộng ra 350 hải lư theo qui định của Luật Biển LHQ th́ hải phận VN [rộng gấp 4 lần đất liền và] sẽ bao gồm luôn Hoàng Sa Trường Sa v́ khi đó hai nhóm đảo này nằm gần trọn trên Thềm Lục Địa “mở rộng” 350 hải lư của VN.
- Hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có một phần nhỏ nằm cách bờ biển VN 200 hải lư, hầu hết các đảo của hai nhóm này đều nằm rất xa ngoài khơi, có nơi cách bờ biển VN tới 400 hải lư. Hà Nội biết rơ điều này nên việc không xin mở rộng thềm lục địa VN ra 350 hải lư là phải có ư đồ ? Phải chăng đă đến lúc Bắc Kinh tăng tốc chiếm Biển Đông và buộc Hà Nội phải “hợp pháp hóa” những ǵ hai đảng CS đă thoả thuận ngầm từ lâu, trong đó hiệp ước về Vịnh Bắc Việt 25-12-2000 là mục tiêu chính ?
Hồ sơ ngày 6-5-2009 của Hà Nội và Trường Sa ? [4]
1. Ngày 13-5-2009 là ngày chót để nộp hồ sơ về Thềm Lục Địa “mở rộng” [Extended Continental Shelf] ra ngoài 200 hải lư và đến tối đa 350 hải lư mà VN có đầy đủ điều kiện theo Luật Biển để được hưởng, không phải để đăng kư Vùng Đặc Quyền Kinh Tế [Exclusive Economic Zone] 200 hải lư. [5] [6].
Theo Luật Biển, Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư là vùng biển mà các nước ven biển đương nhiên được hưởng, không phải đăng kư. Thế nhưng, hồ sơ ngày 6-5-2009 của Hà Nội không những không xin mở rộng thềm lục địa mà c̣n giới hạn hải phận VN ở mức 200 hải lư và cố ư gạt nhóm đảo Trường Sa ra ngoài thềm lục địa VN.
2. Vẫn theo Luật Biển, Ủy Ban sẽ không cứu xét nếu hồ sơ có sự phản đối hay tranh chấp. Hai hồ sơ của Hà Nội đều bị Trung Cộng và Phi Luật Tân phản đối nhưng vẫn được Ủy Ban cứu xét và rất có khả năng sẽ được Ủy Ban thông qua. V́ sao ? Đây chính là “kẽ hở” của Luật Biển LHQ qua ‘Thủ Tục Cứu Xét” hồ sơ [được tóm lược trên đây] mà cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đều đă nhận ra và lợi dụng nên mới có việc Hà Nội “dám” nộp hồ sơ về Biển Đông cho LHQ, tức “quốc tế hoá” hay “pháp lư hoá” là những “khắc tinh” đối với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông xưa nay.
3. Trung Cộng kư Luật Biển LHQ ngày 10-12-1982 và phê chuẩn ngày 7-6-1996 nhưng chưa bao giờ tôn trọng Luật Biển LHQ. Trung Cộng c̣n tự ban hành Luật Biển riêng và bản đồ lưỡi ḅ chiếm 80% Biển Đông, bất chấp qui định của Luật Biển.
- Bản đồ lưỡi ḅ lấn sát bờ biển VN, có nơi chỉ cách bờ biển VN 40 hải lư, chạy dài xuống tận đảo Natuma, Nam Dương, tức cách xa lục địa Trung Hoa khoảng 1000 hải lư, trong lúc Luật Biển qui định Thềm Lục Địa mở rộng không được quá 350 hải lư.
- Trung Cộng không nộp hồ sơ cho Ủy Ban là cơ quan được ủy nhiệm về vấn đề thềm lục địa mở rộng và chỉ cho đại diện tại LHQ gửi công hàm ngày 8-5-2009 cho Tổng Thư Kư LHQ để yêu cầu Ủy Ban không cứu xét hồ sơ của VN mà thôi. Kèm với công hàm là bản đồ lưỡi ḅ v́ Trung Cộng biết chắc rằng nếu chính thức gửi cho Uỷ Ban th́ sẽ bị bác bỏ v́ cái bản đồ quái đản này không theo một qui tắc nào của Luật Biển LHQ cả.
4. Uỷ Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa không có thẩm quyền phân định ranh giới biển. Nguyên tắc của Uỷ Ban là khuyến khích các nước liên hệ tự giải quyết việc phân ranh với nhau. Trong suốt tiến tŕnh giải quyết một hồ sơ về thềm lục địa, Uỷ Ban luôn luôn phải tham khảo ư kiến của các nước liên hệ [như đă tŕnh bày trong phần Thủ Tục Cứu Xét Hồ Sơ, ở trên]. Nếu có tranh chấp giữa 2 hay nhiều nước, Uỷ Ban có thể không chấp thuận hồ sơ của cả 2 hay nhiều nước.
Ngoài ra, tuy các nước liên hệ c̣n có quyền đưa vấn đề ra trước Toà Án Quốc Tế, nhưng đưa ra Toà Án Quốc Tế La Hague [1945] th́ cũng như không, chẳng giải quyết được ǵ v́ theo quy chế của Toà này th́ hai bên tranh tụng có quyền “không thi hành” phán quyết của Toà dù chính họ nhờ Toà phân xử. Trái lại, phán quyết của Toà Án Quốc Tế Hamburg [1996] chuyên về Luật Biển có gía trị chung quyết và các bên tranh tụng phải chấp hành. Hà Nội có dám tiến tới hay không ? Điều này rất khó xảy ra lúc này v́ ai cũng biết đảng CSVN hiện nay hoàn toàn lệ thuộc đảng CSTH. Bắc Kinh bảo sao th́ Hà Nội cúi đầu làm vậy.
Hồ sơ ngày 7-5-2009 của Hà Nội và Hoàng Sa ? [7]
1. Ngày 7-5-2009, Hà Nội nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa hồ sơ liên quan đến phía Bắc Biển Đông, tức liên quan đến Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa. Tuy lời mở đầu hồ sơ này có nói Hoàng Sa và Trường Sa là của VN và nói tới việc “mở rộng” Thềm Lục Điạ VN ra ngoài 200 hải lư nhưng phần chính văn bản th́ lờ đi không đề cập ǵ tới Hoàng Sa nữa và điều quan trọng là bản đồ kỹ thuật kèm theo hồ sơ th́ đường ranh 200 hải lư đột ngột dừng lại ở vĩ độ 15 N khi vừa đụng tới nhóm đảo Hoàng Sa, với lư do vùng trên vĩ độ 15 N này đă “được giải quyết” giữa Hà Nội và Bắc Kinh.
- Đường ranh 200 hải lư này cũng được vẽ không chính xác; Hà Nội cố ư vẽ đường ranh này nhô lên tận vĩ độ 16 N, trong lúc theo hồ sơ viết th́ đường ranh này dừng lại ở vĩ độ 15 N 067, tức chỉ nhô khỏi vĩ độ 15 N một chút, chứ không thể tới vĩ độ 16 N được.
- Vùng biển Hà Nội xin “mở rộng” ra ngoài 200 hải lư trong hồ sơ 7-5-2009 có h́nh tam giác ngược, đỉnh nhọn ở phía dưới [ở vĩ độ 10 N 798], cạnh đáy hơi nghiêng nằm chếch ngang phía trên [cạnh phía Đông có đỉnh ở vĩ độ 15 N 067, cạnh phía Tây có đỉnh ở vĩ độ 15 N 200].
- Đỉnh h́nh tam giác ngược này cách xa quần đảo Trường Sa như cố tránh đụng nhóm đảo Trường Sa, cạnh đáy nằm chếch ngang ở phía trên khi chớm đụng nhóm đảo Hoàng Sa là dừng lại, trong lúc nhóm đảo Hoàng sa trải dài từ vĩ độ 15 N lên hết vĩ độ 17 N.
- Rơ ràng là Hà Nội cố ư gạt cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa ra ngoài vùng biển h́nh tam giác ngược mà Hà Nội nói là xin mở rộng. Hay nói khác đi, Hà Nội có xin mở rộng thềm lục địa VN ra ngoài 200 hải lư một chút [qua hồ sơ ngày 7-5-2000], nhưng vùng biển xin mở rộng h́nh tam giác ngược này chỉ là một vùng nước biển, dưới tránh đụng Trường Sa, trên né chạm Hoàng Sa; tức chẳng ảnh hưởng ǵ tới hai quần đảo này hay có đụng chạm tí chút đến nhóm Trường Sa th́ chỉ là vài đụn cát hay đá rất ít giá trị.
Đến đây, xin được mượn lời của học giả Vũ Hữu San, chuyên về Biển Đông, để kết luận phần phân tích hai hồ sơ Hà Nội nộp LHQ ngày 6 và 7-5-2009 : “Hà Nội đă lùi bước khi vẽ hải đồ nộp LHQ. Dân chúng VN đừng bao giờ nghe chúng nói, hăy nh́n những ǵ chúng làm. Nếu xem hải đồ do Hà Nội vẽ để nộp LHQ, chúng ta sẽ thấy : 3-4 biển Hoàng Sa nằm trong hải phận Trung Quốc; VN chỉ c̣n 1 đảo độc nhất là Tri Tôn trong số trên 100 đảo của nhóm Hoàng Sa; 4-5 biển Trường Sa không c̣n trong hải phận VN; VN chỉ c̣n đảo Trường Sa nổi và 2 đảo ch́m, trong số hơn 100 đảo nổi, ch́m của nhóm Trường Sa. Hà Nội đă công khai vẽ hải đồ và chính thức nộp cho LHQ. Từ nay, Việt Nam cái ǵ ngược lại về hải phận cũng không được. Hà Nội tuyên bố sẽ t́m mọi cách để giải quyết vấn đề Biển Đông và trong thời gian sắp tới, hai bên “cùng bàn bạc, đàm phán, phân định biên giới biển. Khi đó, Trung Quốc sẽ dùng hải đồ mà Việt Nam đă nộp LHQ để đàm phán th́ số phận Hoàng Sa Trường Sa coi như xong!”
Thềm Lục Địa với Hoàng Sa và Trường Sa ?
1. Tại hội nghị chuyên đề về Biển Đông ở Hà Nội ngày 10-11-2009, Vụ trưởng Ban Biên giới Nguyễn Duy Chiến tuyên bố : “Việc Ủy Ban Thềm Lục Địa xem xét báo cáo [NT : tức hai hồ sơ của Hà Nội] không ảnh hưởng đến vấn đề chủ quyền biển đảo.” Nguyễn Duy Chiến không hiểu hay bóp méo Luật Biển như Lê Công Phụng khi kư hiệp định 25-12-2000 hay nói dối như Vũ Dũng, một khác thứ trưởng của Hà Nội ? [8]
Hai hồ sơ Hà Nội nộp LHQ chẳng những trước mắt mất Hoàng Sa, Trường Sa và phần lớn Vịnh Bắc Việt qua Luật Biển mà hậu quả tất yếu là rồi đây Trung Cộng có thể thôn tính VN dễ dàng bất cứ lúc nào khi đă khống chế được phía Đông VN là điều ai cũng thấy ! Quyền lợi cấp thiết và sinh tử của VN ở đây rơ ràng là mở rộng thềm lục địa ra 350 hải lư mà VN có đủ điều kiện theo Luật Biển để được hưởng v́ nếu thềm lục địa VN được mở rộng ra 350 hải lư th́ Hoàng Sa Trường Sa sẽ nằm gọn trên thềm lục điạ VN. Theo Điều 77 Luật Biển, quyền của các nước ven biển đối với thềm lục địa là một quyền tuyệt đối để thăm ḍ và khai thác dầu khí và như thế liệu các công ty dầu khí quốc tế có dám kư hợp đồng hàng chục tỷ với Trung Cộng để khai thác dầu khí ở vùng biển được LHQ xác định thuộc độc quyền khai thác của VN không ?
Thế nhưng Hà Nội lại xác định thềm lục địa VN chỉ 200 hải lư; tức gạt vùng biển Hoàng Sa Trường Sa ra ngoải thềm lục địa VN, gián tiếp gạt Hoàng Sa Trường vào trong hải phận hay chu vi bản đồ lưỡi ḅ Trung Cộng. Về mặt luật pháp, đây là một hành vi “chuyển nhượng lănh thổ quốc gia” bất hợp pháp ngoại bang; luật pháp quốc gia xem tội này là “tội phản quốc” và luật pháp quốc tế hiện nay coi là “tội lạm quyền” và liệt vào loại tội ác nghiêm trọng. [9]
2. Âm mưu dâng Hoàng Sa Trường Sa cho ngoại bang của đảng CSVN lộ rơ hơn nữa khi đại diện Hà Nội vừa tuyên bố “sẽ t́m mọi cách để giải quyết vấn đề Biển Đông” và trong thời gian sắp tới “2 bên cùng bàn bạc, đàm phán, phân định biên giới trên biển.” Hai bên sẽ đàm phán thế nào th́ vụ đàm phán 10 năm trước với hiệp ước 25-12-2000 về Vịnh Bắc Việt đủ để biết trước hậu quả của đàm phán song phương của Hà Nội với Bắc Kinh.
10 năm trước, Nhật Báo Nhân Dân Bắc Kinh của Trung Cộng đă hoan hỉ ghi lại kết quả về đàm phán : “Hải Nam là tỉnh nhỏ nhất của TH, nhưng sở hữu tới 2 triệu 200 ngàn km2 Vùng Đặc Quyền Kinh Tế” và -10 năm trước- học giả Vũ Hữu San kêu lên : “Chỉ một ḥn đảo Hải Nam thôi, TH đă chiếm phần lớn Biển Đông… Làm sao VN c̣n đầy đủ sức lực cho cuộc thương thảo nhiều lần quan trọng hơn về Trường Sa Hoàng Sa cũng như toàn thể chủ quyền Biển Đông sau này.”
Nói rơ hơn, qua thương thảo 10 năm trước trong việc phân định lại Vịnh Bắc Việt, Hà Nội đă dâng cho Bắc Kinh khoảng 20 000km2 Vịnh Bắc Việt, đă để cho Bắc Kinh lấy bằng hết vùng thủy tra thạch ở cửa sông Hồng, nơi có tiềm năng dầu khí, và để cho Trung Cộng lấn chiếm Vùng Đặc Quyền Kinh Tế phía Bắc VN, có nơi chỉ c̣n cách bờ biển VN có 40 hải lư.
Nay, qua 2 hồ sơ Hà Nội nộp LHQ, hậu quả c̣n tệ hại vô cùng v́ chưa bước vào thương thảo tay đôi với Bắc Kinh mà Hà Nội đă tự “trói miệng” hay chịu mất trước, khi xác nhận với LHQ là Thềm Lục Địa hay Vùng Đặc Quyền Kinh Tế chỉ có 200 hải lư, tức Hoàng Sa Trường Sa nằm ngoài hải phận VN, tức “không chắc” là của VN [như “luận điệu” của TS Vũ Quang Việt trong Hội Thảo Biển Đông ở Phidelaphia và trên BBC cuối tháng 7-2010 : “Không thể nói chắc rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của VN.”]
Hà Nội biết rơ hơn ai hết Hoàng Sa, Trường Sa là của VN với đầy đủ bằng chứng giá trị về tất cả mọi mặt, Trung Cộng dùng vơ lực xâm chiếm Hoàng Sa và cùng một số nước khác chiếm đóng bất hợp pháp phần lớn Trường Sa th́ Hà Nội có trách nhiệm phải đưa vấn đề ra trước cơ quan thẩm quyền để trục xuất kẻ xâm lược nếu không tự ḿnh làm được điều này chứ sao lại thương thảo để chia chác biển đảo VN với quân cướp ? Cho dù không trục xuất được bọn cướp ngay th́ phán quyết của một Toà Án Quốc Tế [như Hamburg chuyên về Luật Biển chẳng hạn] chí ít cũng giúp VN giữ được chủ quyền về pháp lư [và rất cần thiết cho mai sau] và ngăn chặn bất cứ ai muốn nhẩy vào hợp đồng khai thác với bọn cướp.
3. Việc mở rộng thềm lục địa VN liên đới chặt chẽ với chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa; rơ ràng là nếu thềm lục địa VN mở rộng ra 350 lư th́ VN đương nhiên làm chủ Hoàng Sa Trường Sa v́ khi đó Hoàng Sa Trường Sa nằm gọn trên thềm lục địa VN. Hơn nữa, theo Điều 77 Luật Biển th́ đây là chủ quyền tuyệt đối của nước ven biển trong việc thăm ḍ và khai thác dầu khí.
Một lư do quan trọng khác khiến không nên tách Hoàng Sa, Trường Sa ra khỏi thềm lục địa VN là v́ 2 nhóm đảo này không được xem là hải đảo hay quần đảo theo nghĩa của Luật Biển. Theo Luật Biển, hải đảo hay đảo là một giải đất thiên nhiên bao bọc bởi nước và cao hơn mực nước thủy triều. Nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có tiểu đảo, không có thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế nên không được hưởng quy chế hải đảo hay đảo [Điều 121 Luật Biển].
Hoàng Sa Trường Sa cũng không phải là quần đảo theo nghiă Luật Biển v́ diện tích quá nhỏ [6 hải lư vuông] trong một vùng biển rộng 180 ngàn hải lư vuông, v́ theo Luật Biển [Điều 46 và 47], quần đảo bao gồm các đảo nằm san sát bên nhau và phải có diện tích bằng ít nhất 1-9 vùng biển, như Nam Dương chẳng hạn.
4. Hà Nội lúc nào cũng cho rằng VN có chủ quyền đối với Hoàng Sa Trường Sa nhưng chỉ tuyên bố cho có tuyên bố hay hội thảo um sùm nhưng thực tế th́ để cho Trung Cộng chiếm trọn Hoàng Sa và lấn chiếm dần dần Trường Sa. Hoàng Sa Trường Sa là của VN với đầy đủ bằng cớ giá trị về tất cả phương diện lịch sử, địa lư, hành chánh và pháp lư th́ ai cũng biết và chắc chắn Trung Cộng cũng biết nên mới phải dùng vơ lực lấn chiếm. Nếu không đử sức để bảo vệ khi Hoàng Sa Trường Sa bị xâm lăng, Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lư huyết mạch bị xâm lấn và thậm chí ngư dân VN bị bắn giết bừa băi, tịch thu tàu thyền trong lúc hành nghề hợp pháp trong vùng biển VN, th́ chí ít Hà Nội có trách nhiệm phải đưa vấn đề ra trước các cơ quan thẩm quyền phân xử. Nhưng Hà Nội chỉ phản ứng xuông qua loa v́ có nhiều dấu hiệu khả tín chứng tỏ đảng CSVN đă dâng Hoàng Sa Trường Sa và phần lớn Vịnh Bắc Việt cho đảng CSTH từ lâu rồi và nay Nguyễn Tấn Dũng nộp hồ sơ cho LHQ để hoàn tất tiến tŕnh bàn giao những ǵ đă thoả thuận ngầm giữa 2 đảng CS này mà thôi.
Về công pháp quốc tế, sau nhiều thập niên bàn căi qua nhiều hội nghị quốc tế, Luật Biển LHQ ra đời để giải quyết những tranh chấp xảy ra trên biển nhất là từ khi khám phá ra tiềm năng to lớn về dầu khí và khí đốt dưới đáy biển. Quan niệm biển cả là tài sản chung của nhân loại, Luật Biển dành quyền giải quyết mọi tranh chấp xảy ra trên biển, đặc biệt là vấn đề mở rộng thềm lục địa với những điều khỏan qui định rơ ràng và “chỉ vấn đề nào Luật Biển không đề cập tới mới giải quyết theo tập tục hay qui tắc tổng quát của Công Pháp Quốc Tế.” Do đó, các nguyên tắc như quyền chiếm hữu [occupation] hay công bố minh thị [express proclamation], nếu có được viện dẫn sau này để cho rằng “việc Trung Cộng chiếm cứ Hoàng Sa Trường Sa không có tác dụng tước đoạt chủ quyền lănh thổ của VN” thiết nghĩ làm sao vô hiệu được quyết định của Ủy Ban Thềm Lục Địa khi Uỷ Ban này căn cứ vào thẩm quyền minh thị bởi Luật Biển LHQ để xác định thềm lục địa hay hải phận VN 200 hải lư tức Hoàng Sa, Trường Sa nằm ngoài hải phận VN- do Hà Nội đă xác định qua hồ sơ nộp LHQ ?
Hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt 25-12-2000 ?
1. Hà Nội và Bắc Kinh lén lút kư kết hiệp ước phân định lại Vịnh Bắc Việt ngày 25-12-2000 nhưng dấu kín nôi dung, dù dư luận ầm ĩ từ trong nước ra hải ngoại là VN mất trên 11 000 km2 vùng Vịnh Bắc Việt qua hiệp ước này. Khi 1 bản đồ trong hơ sơ mật của Hà Nội bị phát hiện th́ mọi ngưới mới hay Hà Nội đă hiến cho Bắc Kinh tới 20 000 km2 Vịnh Bắc Việt, không phải chỉ 11 000 km2.
Trong số 21 điểm qui định trong bản đồ đính kèm hiệp ước 25-12-2000 [dưới đây], ngoại trừ điểm 1 nằm ở vĩ tuyến 21 độ Bắc, tức cửa sông Bắc Luân ở ranh giới tỉnh Móng Caí-VN và tỉnh Quảng Đông-TH, các điểm mốc từ số 2 đến số 21 đều lấn sâu vào bờ biển VN.
Như điểm mốc 17 cách bờ biển VN 44 hải lư và cách Hải Nam 73 hải lư; tức sự phân chia vùng biển không đồng đều như Luật Biển qui định mà phía TH vượt trội phía VN tới 29 hải lư. Theo các nhà nghiên cứu và giới hiểu biết vấn đề th́ Hà Nội đă để cho Bắc Kinh lấy bằng hết vùng thủy tra thạch cửa sông Hồng VN, nơi có tiềm năng dầu khí.
2. Trước dư luận lên án đảng CSVN lén lút dâng biển cho đảng CSTH ngày càng dữ dội, ngày 28-1-2002 Lê Công Phụng – Thứ Trưởng Ngoại Giao và Trưởng Ban đàm phán về biên giới và phân định lại Vịnh Bắc Việt, lên tiếng thanh minh th́ lại lộ ra chẳng những Đảng CSVN đă bán nước cho Đảng CSTH từ lâu rồi mà chính Phụng cũng dối gạt dân chúng về cả Luật Biển LHQ.
- Theo lời Phụng th́ chính TBT Đỗ Mười [năm 1993] và TBT Lê Khả Phiêu [1997] đă sang Bắc Kinh để “thoả thuận các nguyên tắc căn bản về biên giới và lănh hải” với TBT Giang Trạch Dân. Phụng c̣n dám dối gạt rằng y đă “căn cứ vào các qui định của Luật Biển LHQ và các nguyên tắc quốc tế và tập quán” trong lúc đàm phán với Bắc Kinh. Sự thực trái ngược hẳn lời Phụng tuyên bố và sau đây là vài thí dụ :
-Theo Luật Biển LHQ, nếu 2 bên không thỏa thuận được với nhau th́ phân chia lănh hải theo “đường trung tuyến” [median line]. Đường trung tuyến trong trường hợp này là đường giữa đảo Bạch Long Vị của VN và đảo Hải Nam của TH; khoảng cách phải bằng nhau giữa 2 đảo này. Nhưng Phụng đă bất chấp điều luật này và chấp thuận đường phân chia cách Bạch Long Vĩ 15 hải lư và cách Hải Nam 55 hải lư, tức là phiá TH vượt trội phía VN 40 hải lư.
- Luật Biển LHQ cũng qui định đường trung tuyến phải chạy giữa 2 đường bờ biển hay giữa 2 đảo; Phụng đă bất chấp qui định này và chấp thuận đường truong tuyến giữa đảo Hải Nam với bờ biển VN, hy sinh luôn đảo Bạch Long Vĩ của VN.
- Toà Án Quốc Tế, án lệ Lybia vs. Malta [1985], đă phán quyết đảo dù lớn đến đâu cũng không b́nh đẳng với lục địa được và không cho đảo Malta được có lănh hải bằng lục địa Lybia. Phụng đảo ngược Án Lệ Lybia khi cho đảo Hải Nam có lănh hải hơn hẳn lục địa VN.
3. Theo giới am hiểu vấn đề th́ cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đều không có một lư do nào để phân định lại Vịnh Bắc Việt. Hiệp ước Constans kư kết tại Bắc Kinh ngày 16-6-1887 giữa đại diện Pháp [đô hộ VN lúc đó] và đại diện nhà Thanh [đô hộ TH] vẫn c̣n hiệu lực và phù hợp với Luật Biển LHQ mà Hà Nội và Bắc Kinh đều đă kư kết.
- Ngày 12-11-1982, chính Hà Nội đă công bố lănh hải VN vùng Vịnh Bắc Việt phải theo hiệp ước 16-6-1887, tức 63% diện tích Vịnh Bắc Việt thuộc về VN.
- Bắc Kinh không chịu, buộc Hà Nội phải phân định lại vùng này và đảng CSVN đă cúi đầu khuất phục và lén lút kư hiệp ước 25-12-2000.
- Hậu quả của hiệp ước 25-12-2000 là VN đi từ 63% diện tích cũ xuống c̣n 53%. Thực tế c̣n bi đát hơn nữa: Trung Hoa chiếm tới 55% và VN 45% là tối đa, tức VN mất 20% hay khoảng 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Cộng qua việc phân định lại Vịnh Bắc Việt. V́ mất mát quá nhiều như thế nên Hà Nội đă dấu kín hiệp ước suốt bao năm qua.
Lời Kết
Với sự tiếp tay đắc lực của đảng CSVN, Bắc Kinh đang từng bước chiếm VN mà không cần phải động binh vừa hao người tốn của lại bị thế giới xúm vào lên án. Sau việc cho nhập cảnh không cần chiếu khán, đảng CSVN đă rước Trung Cộng vào ngồi ngay trên “mái nhà” VN giả danh khai thác bauxite bất chấp sự phản đối quyết liệt của người dân. Nay, lợi dụng việc xin mở rộng Thềm Lục Địa, đảng CSVN mưu toan dâng Trường Sa, Hoàng Sa và Vịnh Bắc Việt tức “nền nhà” VN cho Bắc Kinh qua hai hồ sơ nộp LHQ ngày 6 và 7-5-2009.
Đất nước đă đến bờ vực thẳm ! Bắc Kinh đang chiếm VN bằng “diễn tiến ḥa b́nh” với sự đồng loă công khai của Hà Nội và với đà này th́ VN sẽ lâm vào t́nh trạng Tân Cương và Tây Tạng một ngày không xa. Xin chớ nghĩ rằng VN từng bị ngàn năm Bắc-thuộc mà vẫn vùng lên giáng cho quân xâm lược những đ̣n chí tử v́ kẻ thù ngày nay thâm độc và tàn ác gấp ngàn lần; nh́n gương Tây Tạng và Tân Cương th́ rơ. Và cũng đừng ngây thơ mà trông chờ, tin tưởng vào bất cứ ai v́ chén đắng 30-4-1975 c̣n nguyên trước mặt.
Ngoại xâm đang ngang nhiên cấu kết với nội xâm và tăng tốc để thực hiện những bước cuối cùng chiếm trọn VN. Nếu đồng bào quốc nội không mau tỉnh giấc để nhận ra t́nh huống vô cùng nguy hiểm của chính ḿnh, người thân và dân tộc mà can đảm nhất loạt đứng lên th́ rồi đây sẽ rơi vào số phận đáng thương người Tây Tạng và Tân Cương ! Nếu đồng hương hải ngoại không gạt bỏ tị hiềm phe phái, vô t́nh hay cố ư lôi kéo mọi người vào những việc làm tŕnh diễn hay chưa cần thiết và ngoảnh mặt làm ngơ trước t́nh thế cực kỳ mong manh của đất nước và dân tộc hiện nay th́ sẽ phải trả giá với lương tâm và với lịch sử một ngày không xa !
Ls Nguyễn Thành -12-9-2010
Tài liệu tham khảo :
- United Nations Convention on the Law of the Sea of 10 December 1982;
- Vũ Hữu San, Địa Lư Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa, 1995, 2007;
- Nguyễn Thành, Đưa Việt Cộng ra trước LHQ, Toà Án các Quốc Gia và Toà Án H́nh Sự Quốc Tế 2002 ?, tạp chí Tiếng Vang, Sacramento, Hoa Kỳ, số tháng 5 và tháng 6-2002.
- Nguyễn Hữu Thống, Vấn đề Hoàng Sa Trường Sa theo Công Pháp Quốc Tế, 2008.
Chú thích : =
[1] “On its position over the islands, China has been most reluctant to sujects the disputes to international legal arbitration : The case of South China Sea Islands by Chi-Kin Lo, 1989”.
[2] Tại hội nghị chuyên đề về Biển Đông ở Hà Nội ngày 10-11-2009, Vụ-trưởng Ban Biên Biới Bộ Ngoại Giao Hà Nội Nguyễn Duy Chiến nói với báo chí : “VN là nước ven biển nên đă nộp báo cáo cho Uỷ Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa để bảo vệ quyền của VN đối với thềm lục địa ngoài 200 hải lư.” [Vietnamnet, 10--11-2009]
[3] Statement of Commision CLCS-64
[4] Joint Submission by Malaysia & Viet Nam in the South part of the South China Sea [May 6, 2009]
[5] Điều 76 Luật Biển LHQ : “An Exclusive Economic Zone extends for 200 nautical miles [370km] beyond the baselines of the territorial sea, thus it includes the territorial sea and its contiguous zone. A coastal nation has control of all economic resources within its EEZ, including fishing, mining, oil exploration, and any pollution of those resources. However, it can’t regulate or prohibit passage or loitering above, on, or under the surface of the sea, whether innocent or belligerent, withinthat portion of its EEZ beyond its territorial sea.”
[6] Điều 77 Luật Biển LHQ : “The continental shelf of a coast al nation extends out to the outer edge of the continental margin but at least 200 nautical miles from the baselines of the territorial sea margin does not stretch that far. The outer limit of a country’s continental shelf shall not stretch beyond 350 nautical miles of the baseline, or beyond 100 miles nautical miles from the 2,500 meter isobath.”
[7] Submission by Viet Nam in the Nrth Area [May 7, 2009]
[8] Vũ Dũng, thứ-trưởng ngoại giao Hà Nội, tuyên bố với báo chí đầu năm 2008 đă bị chính cựu Đại tá CS Bùi Tín cho là dối trá và thách đối chất như sau : “Do nắm chắc t́nh h́nh…mà tôi [Bùi Tín] muốn hỏi ông Vũ Dũng là theo ông có thật là ta không mất đất ở vùng Hà Giang, Lào Kay, Hoàng Liên Sơn không ? Theo tôi, các đoàn đàm phán của ta từ 1996 đến 1999 đă tỏ ra rất mềm yếu. Nhiều giải núi ở Tây Bắc thưa dân, giầu tài nguyên, có gía trị quân sự bị lấn chiếm. Con số 700 đến 800 km2 bị mất không phải là bịa đặt. Thực tế có thể hơn… Giang Trạch Dân luôn thúc dục Lê Khả Phiêu phải thương lượng nhanh, phải kư hiệp ước trên bộ trong năm 1999 và trên biển trong năm 2000. Có ai đi thương lượng lại chịu ép trước về thời gian đến thế ? Cho nên rất dễ hiểu là các nhà đàm phán VN đều nhũn như con chi chi. Chính Đỗ Mười cũng tố cáo Lê Khả Phiêu là nhượng bộ quá, “để mất quá nhiều” cho Trung-quốc… Hai bên đă thỏa thuận tháng 6-2008 này sẽ hoàn tất việc phân giới, cắm mốc và kư nghị định thư về biên giới trên bộ… Lúc ấy muốn che dấu, úp mở cũng không được nữa. Phía Bắc Kinh sẽ nhanh nhẩu phổ biến tập bản đồ mới để khoe thắng lợi, v́ họ thắng đậm… Lúc ấy, các ông Vũ Dũng, Lê Dũng, Lê Công Phụng, rồi các ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Di Niên, đến ông Lê Khả Phiêu và 4 ông tứ trụ Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng sẽ có đầy đủ chứng cớ minh bạch là đă bảo vệ biên giới bất khả xâm phạm của Tổ-quốc ra sao, hay sẽ đực mặt bán đất bán nước ra sao !” [Vietbao, 4-9-2008]
[9] Toà Án Quốc Tế ad hoc Bosnia truy tố Slobodan Milosovic [Tổng thống Liên Bang Nam Tư], Thẩm Phán Tây Ban Nha Baltasar Gapzon kư trát nă bắt quốc tế bắt giam Augusto Pinochet [cựu tổng thống Chile] ở London ngày 16-10-1998 và yêu cầu được thẩm vấn Henry Kissinger [cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ] khi Kiss đến London diễn thuyết năm 2002, cả ba đều bị truy tố về “tội lạm quyền” cùng với nhiều tội ác nghiêm trọng khác. [Nguyễn Văn Thành, “Vụ án Pinochet làm rung chuyển công pháp quốc tế”, VN Nhật Báo, San Jose, 5-8-2000].

Phỏng vấn GS Carlyle A. Thayer: Trở lại vấn đề biển Nam Trung Hoa
Ngọc Thu chuyển ngữ bài phỏng vấn đăng trên trang mạng scribd.com
 
Tóm tắt bối cảnh: Trở lại vấn đề biển Nam Trung Hoa
Hỏi: Những thay đổi nào mà ông nhận thấy trong thái độ của Trung Quốc thời gian gần đây, nếu có, đối với các tranh chấp lănh thổ trên biển Nam Trung Hoa/ biển Đông?
Carlyle A. Thayer: Thay đổi quan trọng nhất trong thái độ của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông sau sự can thiệp của Ngoại trưởng Clinton tại cuộc họp Diễn đàn khu vực ASEAN năm ngoái. Khi bà nói rằng Hoa Kỳ quan tâm đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp ḥa b́nh đối với các tranh chấp lănh thổ, Trung Quốc đă nhanh chóng khôi phục lại Nhóm làm việc chung ASEAN-Trung Quốc đang bị hấp hối để thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông.
Tin tức tiết lộ, Việt Nam và Trung Quốc đă tổ chức bốn cuộc họp bí mật hồi năm ngoái để thảo luận về khu vực Đông Á. Trung Quốc tuyên bố rơ ràng rằng, quần đảo Hoàng Sa không nằm trên bàn thảo luận. Cả hai bên đều đang cố gắng đưa ra các nguyên tắc hướng dẫn các cuộc thảo luận của họ về các vấn đề hàng hải. Tiến độ có thể có được ở vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, nhưng không có bất kỳ dấu hiệu khả quan nào từ phía Trung Quốc về các vấn đề Biển Đông.
Hỏi: Có thay đổi nào về quan hệ ngoại giao – chính trị giữa các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và Hoa Kỳ, liên quan đến vấn đề Biển Đông?
Carlyle A. Thayer: Sự can thiệp của Ngoại trưởng Clinton là phản hồi lại các quan ngại trong khu vực về sự quyết đoán của Trung Quốc. Trung Quốc phản đối bằng cách áp dụng các áp lực ngoại giao lên từng nước ASEAN để ngăn chặn một sự đồng thuận trong việc phát triển cách đối phó với Trung Quốc về các vấn đề trên biển. Áp lực của Trung Quốc đă thành công và các thành viên ASEAN đă xác nhận rằng bất kỳ vấn đề ǵ liên quan đến biển Đông đều bị dừng lại kể từ tuyên bố chung đưa ra sau hội nghị thượng đỉnh các lănh đạo ASEAN-Hoa Kỳ lần thứ hai tại New York do Tổng thống Obama tổ chức.
Rơ ràng là các vấn đề quan trọng tương đối ở biển Nam Trung Hoa sẽ lùi lại v́ Việt Nam không c̣n là chủ tịch ASEAN. Gần đây nhất, Indonesia đă bày tỏ lo ngại rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ và Nhật Bản vào biển Nam Trung Hoa có thể làm phức tạp các cuộc thảo luận giữa ASEAN với Trung Quốc.
Hỏi: Đảng Cộng sản Trung Quốc gần đây đă cho ra một đạo luật lănh thổ, tuyên bố chủ quyền ở các khu vực mà Trung Quốc cai trị cách đây hàng trăm năm. Điều này có là mối quan ngại cho các nước?
Carlyle A. Thayer: Đây là một ví dụ nữa về chiến thuật “tằm ăn dâu” của Trung Quốc. Sự khẳng định các tuyên bố về vấn đề này của Trung Quốc được thiết kế để làm kiệt sức dần các đối thủ của họ. Điều này chẳng có ǵ mới bởi v́ Trung Quốc đă có các tuyên bố lịch sử như thế trước đây. Thật vậy, các tuyên bố của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa không dựa trên luật pháp quốc tế, mà chỉ diễn giải theo lịch sử riêng của Trung Quốc.
Hỏi: Lo ngại làm Trung Quốc – một đối tác thương mại quan trọng – tức giận, một số nước ở khu vực châu Á – Thái B́nh Dương đă cố gắng không tham gia vào tranh chấp lănh thổ trên biển Đông. Cần phải làm ǵ để vượt qua mối quan ngại của họ?
Carlyle A. Thayer: Ba nước Đông Nam Á đă không hỗ trợ Việt Nam hồi năm ngoái khi bị đẩy vào ṿng đồng thuận ASEAN về biển Đông. Các nước này là Myanmar, Campuchia và Thái Lan. Đây là ba nước khác nhau. Áp lực của Trung Quốc có thể được khắc phục bằng các phương án thay thế. Campuchia cần vào thị trường Mỹ để bán hàng dệt và may mặc của ḿnh. Mỹ có thể gây áp lực với Campuchia để thay đổi lập trường của họ trên biển Nam Trung Hoa nhưng họ không làm như vậy. Mỹ không có cách để gây áp lực với Myanmar. Thái Lan là một đồng minh lớn ngoài khối NATO của Mỹ. Nhưng vấn đề chính trị nội bộ của họ không ổn định, làm giảm lập trường xung đột với Trung Quốc về biển Nam Trung Hoa.
Chính ASEAN cần chứng minh cho các thành viên của ḿnh rằng sự thống nhất và đoàn kết về biển Nam Trung Hoa là một phần trong sự cần thiết lớn hơn để cùng nhau làm việc như một khối thống nhất trong việc đối phó với Trung Quốc. Tuy nhiên, chỉ có các nước ASEAN cùng đồng thuận và không bắt buộc các thành viên tuyên bố lập trường mà họ không thoải mái.
Hỏi: Hiện Hoa Kỳ hoan nghênh Việt Nam tham gia vào các cuộc diễn tập trên biển như CARAT, vào bất cứ lúc nào. Dường như Washington đang cố gắng tăng cường liên minh Việt – Mỹ bằng mọi cách, và điều này có gây bất kỳ áp lực nào lên Bắc Kinh?
Carlyle A. Thayer: Hoa Kỳ muốn phát triển các mối quan hệ quốc pḥng – khác với sự liên minh – với Việt Nam để có thể ảnh hưởng đến Hà Nội về một loạt vấn đề an ninh khu vực, gồm cả Trung Quốc. Tuy nhiên, quan hệ quốc pḥng vẫn đang trong giai đoạn xây dựng sự tự tin và tin tưởng. Hoa Kỳ đă nói rơ, chẳng hạn như việc bán các thiết bị quân sự có liên quan đến việc cải thiện t́nh h́nh nhân quyền ở Việt Nam. V́ vậy, có những giới hạn áp đặt từ phía Mỹ. Việt Nam sẽ không cho phép bị sử dụng trong bất kỳ chiến lược nào của Mỹ để kềm chế Trung Quốc. Việt Nam t́m cách [ở giữa] để hai cường quốc chọi nhau. Việt Nam sợ sự cấu kết của [Hoa Kỳ và Trung Quốc] sẽ làm cho Việt Nam phải trả giá.
Hỏi: Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và người đồng nhiệm Trung Quốc sẽ gặp vào cuối tháng 1 năm 2011 để thảo luận về một đạo luật thông thường cần thiết dựa trên Tuyên bố Ứng xử (DOC) đă kư vào năm 2002. Ông có nghĩ rằng họ có thể đạt được thỏa thuận?
Carlyle A. Thayer: Nhóm làm việc chung ASEAN – Trung Quốc có thể đạt được một số tiến bộ trong việc tiến tới thực hiện các biện pháp xây dựng ḷng tin trong Tuyên bố Ứng xử (DOC). Nhưng các nguyên tắc chỉ đạo của ASEAN kêu gọi các nước họp với nhau và tạo một sự đồng thuận trước khi họp với Trung Quốc.
Trung Quốc phản đối vấn đều này và muốn thương lượng song phương. Sự bất đồng ở điểm này có thể làm chậm tiến độ thi hành DOC. DOC chỉ là bước khởi đầu hướng tới một quy tắc ứng xử ràng buộc, mang tính pháp lư hơn. Có một số kỳ vọng rằng sẽ có một số tiến bộ nhằm kỷ niệm lần thứ 10 của DOC vào năm 2012. Khi Việt Nam c̣n khẳng định gồm cả quần đảo Hoàng Sa và khi Trung Quốc vẫn c̣n từ chối, sẽ có rất ít tiến bộ về một Quy tắc Ứng xử. Điều tốt nhất có thể hy vọng th́ rất nhỏ, thay đổi rất ít và chủ yếu là các bước tượng trưng trong việc thực hiện các biện pháp xây dựng sự tự tin trong DOC.
© Ngọc Thu (Bản tiếng Việt)
© Đàn Chim Việt

Biển Đông với Hoa Kỳ-Trung Cộng-Việt Cộng hiện nay
TT Nga Vladimir Putin : “Kẻ nào tin những ǵ Cộng Sản nói là không có cái đầu.”
 
 
Vấn đề “Biển Đông với Hoa Kỳ” và “Hoàng Sa Trường Sa với Trung Cộng và Việt Cộng” rất phức tạp. Luật Biển LHQ đă phức tạp lại rất mới mẻ, nhất là vấn đề Vùng Đặc Quyền Kinh Tế [rộng 200 hải lư] và Thềm Lục Địa “mở rộng” [350 hải lư], nơi có trữ lượng dầu khí rất lớn. Trung Cộng và Việt Cộng lại tung đủ thứ hoả mù vào, làm cho rối mù thêm để che dấu sự thật và thực hiện mưu toan bất chính.
Do đó, chẳng những dân chúng mà ngay giới trí thức hay nghiên cứu, nếu không theo sát vấn đề hay thiếu cẩn trọng cũng rất dễ ngộ nhận và sa vào sách lược bành trướng của Trung Cộng và chủ trương hiến biển dâng đảo cho Bắc Kinh để bảo kê cho chế độ độc tài đảng trị của Việt Cộng.
Để dễ hiểu và không mất nhiều thời gian của bạn đọc, người viết xin được triển khai tổng quát đề tài trên đây qua 3 tiểu mục :
1. Mục tiêu Hoa Kỳ ở Biển Đông.
2. Sách lược xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Trung Cộng.
3. Chủ trương hiến biển dâng đảo [cho Trung Cộng] của Việt Cộng.
Mục tiêu Hoa Kỳ ở Biển Đông
Ngày 24-7-2010, ngay sau lời tuyên bố của bà Hillary Clinton ở Hà Nội và trước sự suy diễn và kỳ vọng quá đáng vào vai tṛ của Mỹ ở Biển Đông, qua bài tham luận ở “Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông” ngày 12-9-2010 ở Nam California, Hoa Kỳ, và sau đó thuyết tŕnh ở hội luận “Tổ Quốc Lâm Nguy! Phụ Nữ VN Phải Làm Ǵ” ngày 3-10-2010 ở Paris, Pháp-quốc, người viết bài này đă lưu ư bạn đọc: Mục tiêu “chủ chốt” của Hoa Kỳ ở Biển Đông là quyền lợi kinh tế. Trong lúc đó mục tiêu “cốt lơi” của Trung Cộng là chiếm trọn Hoàng Sa Trường Sa của VN. V́ khác biệt nhau nên rồi ra hai bên cũng dễ đi đến thoả hiệp và chỉ VN là thua thiệt hoàn toàn.
Thật vậy, chỉ cần đọc kỹ các tuyên bố của Bộ Trưởng Quốc Pḥng Robert Gates ở Indonesia ngày 5-6-2010 hay của chính Bộ Trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton ở Hà Nội ngày 24-7-2010 th́ thấy ngay chính sách của Hoa Kỳ về Biển Đông, trước sau như một, gồm ba vấn đề:
1. Về kinh tế, Hoa Kỳ chủ trương tự do đi lại hay tự do hàng hải, chủ chốt là các công ty năng lượng Mỹ không bị đe doạ hay ngăn chặn.
2. Về lănh hải, Hoa Kỳ chủ trương “không đứng về phía nào” và giải quyết các tranh chấp thông qua Luật Biển LHQ.
3. Về an ninh, Hoa Kỳ không chấp nhận dùng vơ lực, giải quyết tranh chấp qua đàm phán “đa phương” và Mỹ sẵn sàng làm trung gian.
Một bản nghiên cứu của Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ được công bố trước đó c̣n viết rơ ràng hơn nữa chính sách của Hoa Kỳ về lănh hải hay đối với Hoàng Sa Trường Sa: “Hoa Kỳ không có quan điểm đúng sai về pháp lư đối với các tuyên bố về chủ quyền lănh hải. Lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ trong việc duy tŕ đường thông thương nối liền Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Ấn Độ Dương đ̣i hỏi sự chống lại các xác lập chủ quyền vượt khỏi các điều Luật Biển LHQ cho phép.”
Rơ ràng là không những không hề có ư giúp “bảo vệ” hay “đ̣i lại” Hoàng Sa Trường Sa cho VN như một số người đă quá “tưởng tượng”. mà Hoa Kỳ c̣n tỏ ra “thiên vị” hay “tránh né” Trung Cộng. Bởi lẽ, chính Hoa Kỳ đă chứng kiến việc quân xâm lược Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa ngày 19-1-1974 [và sau này đánh chiếm 7 vị trí của Trường Sa ngày 14-3-1988], tức vi phạm trắng trợn Công Pháp Quốc Tế và Luật Biển LHQ. Nay kẻ xâm lăng lại lớn tiếng đ̣i hỏi chủ quyền pháp lư đối với hai quần đảo này mà Hoa Kỳ lại “không có quan điểm đúng sai về pháp lư đối với các tuyên bố về chủ quyền lănh hải” của Trung Cộng là thế nào? Cho dù quan điểm của Hoa Kỳ tỏ ra có lợi cho Trung Cộng như thế, nhưng Bắc Kinh cho đến nay vẫn mạnh mẽ và dứt khoát không chấp nhận cho Hoa Kỳ xen vào vấn đề Biển Đông.
Hơn nữa, phần lớn chủ trương về Biển Đông của Hoa Kỳ đều “lặp lại” những ǵ mà Trung Cộng và Việt Cộng đă làm hay đang mưu toan?
-Về lănh hải, Hoa Kỳ cho rằng “phải giải quyết thông qua Luật Biển LHQ” th́ – với sự “cho phép” hay “dàn dựng” của Bắc Kinh – Hà Nội đă nộp Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa LHQ hồ sơ ngày 6-5-2009 để giải quyết vấn đề lănh hải ở Nam VN [liên quan tới Trường Sa] và hồ sơ ngày 7-5-2009 về lănh hải ở Trung VN [liên quan tới Hoàng Sa]. Bất cứ ai theo dơi t́nh h́nh VN đều biết người dân trong nước chỉ nói hay viết ra “Hoàng Sa Trường Sa là của VN” là đă bị đàn áp thẳng tay hay bỏ tù rồi, huống hồ là đưa vấn đề ra trước Luật Biển LHQ, trừ khi có sự đồng ư của Bắc Kinh th́ Hà Nội mới dám làm như thế. Trung Cộng ồn ào phản đối hai hồ cũng chỉ là tung hoả mù để đánh lạc hướng dư luận mà thôi.
V́ sao Bắc Kinh lại cho phép Hà Nội đưa vấn đề mà cả hai vẫn coi là “nhạy cảm” này ra trước LHQ ?
Xin thưa : Bắc Kinh đă nhận ra “kẽ hở” của Luật Biển LHQ và có thể lợi dụng hoàn toàn được kẽ hở này để hoàn tất mục tiêu chiếm trọn Hoàng Sa Trường Sa qua chính Luật Biển Quốc Tế với sự tiếp tay của “nội gián” Hà Nội. Hoa Kỳ có thể không thấy điều này v́ hiện nay Hoa Kỳ vẫn đứng ngoài Luật Biển LHQ [tuy vẫn tuyên bố chấp hành]. Hay Hoa Kỳ biết rơ nhưng “lơ đi” hay thật ra, với Hoa Kỳ th́ Hoàng Sa Trường Sa ở trong tay Trung Cộng hay Việt Cộng th́ cũng như nhau mà thôi. [Xin đọc bài 3 để thấy đâu là kẽ hở của Luật Biển LHQ].
Đối với phần lănh hải phía Bắc VN th́ Bắc Kinh đă buộc được Hà Nội kư hiệp ước [bí mật và bất hợp pháp] ngày 25-12-2000, tức 10 năm trước, phân bố lại Vịnh Bắc Việt để lấn chiếm của VN hơn 20 ngàn km2 biển và Hoàng Sa. Hà Nội sau đó rêu rao là đă giải quyết vùng lănh hải này đúng Luật Biển LHQ [dù sự thật hoàn toàn trái ngược]. Hoa Kỳ làm sao biết việc này, nhất là việc Hà Nội nộp hồ sơ ngày 7-5-2009 cho LHQ, trong đó cố ư giới hạn thềm lục địa VN ở 200 hải lư và gạt Hoàng Sa ra ngoài hải phận VN là để “hợp pháp hóa” hiệp ước “bất hợp pháp” 25-12-2000.
- Về an ninh, tự do đi lại ở Biển Đông chẳng những quan trọng đối với Mỹ và thế giới mà cũng vô cùng cần thiết cho cả Trung Cộng. Hơn nữa, Trung Cộng đâu cần dùng vơ lực khi mà mục tiêu “cốt lơi” là Hoàng Sa đă nằm trọn trong tay TC;và Trường Sa th́ sớm muộn cũng đạt được trong “hoà b́nh, hợp pháp” qua chính hai hồ sơ mà Hà Nội đă nộp LHQ. v́ cả hai hồ sơ đều cố ư gạt hai quần đảo này ra ngoài thềm lục địa hay hải phận VN, tức gián tiếp cho rằng “Hoàng Sa Trường Sa chưa chắc là của VN” như TS Việt-kiều Vũ Quang Việt đă xuyên tạc lịch sử trên đài BBC cuối tháng 7 vừa qua !
Riêng cái bản đồ lưỡi ḅ chiếm 80% Biển Đông th́ Trung Cộng cũng dư biết là làm sao thoả măn trọn vẹn được v́ nó vượt ra ngoài tất cả các quy định của Luật Biển LHQ và bị cả thế giới dị nghị. Quy luật Trung Cộng áp dụng xưa nay là “mềm nắn, rắn buông” nhất là mục tiêu “cốt lơi” là Hoàng Sa Trường Sa đă đạt. Xin lưu ư ở đây là chiều rộng Biển Đông, chỗ hẹp nhất ở vùng Vịnh Bắc Việt cũng gần 120 hải lư. Do đó, dù Trung Cộng có dành được chủ quyền pháp lư đối với Hoàng Sa th́, theo Luật Biển LHQ, nhiều nhất th́ Hoàng Sa cũng chỉ được hưởng lănh hải rộng 12 hải lư mà thôi, v́ thế Hoàng Sa sẽ không đủ điều kiện để có Vùng Đặc Quyền Kinh Tế hay Thềm Lục Địa 200 hải lư; tức tự do đi lại ngay ở vùng Biển Đông hẹp nhất này.
- Về kinh tế, mục tiêu cốt lơi của Hoa Kỳ khi tăng cường can dự vào Biển Đông th́ xem ra đă được giải quyết êm thắm giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng với sự kiện điển h́nh xảy ra vào đúng ngày Hà Nội khai diễn Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông [lần 2], 11-11-2010 ở Sàig̣n, và ngay sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Hà Nội Nguyễn Phương Nga lại một lần nữa lên án Bắc Kinh “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền VN đối với Hoàng Sa Trường Sa, Thềm Lục Địa và Vùng Đặc Quyền Kinh Tế.”
Thật thế, ngày 10-11-2010 Thủ Tướng Anh David Cameron đến Bắc Kinh, mang theo đoàn đại biểu thương mại tới 50 người [nhiều nhất của Anh đến TQ từ xưa đến nay] trong đó có đại công ty dầu khí BP và BP sẽ kư hợp đồng thăm ḍ dầu khí với Tổng Công Ty dầu khí CNOOC của TQ. Nên nhớ, BP trước đây đă kư dự án thăm ḍ dầu khí với VN tại 2 lô 5.2 và 5.3. Sau khi đă tiến hành việc thăm ḍ một thời gian, BP phải án binh bất động v́ phản đối của TC và cuối năm 2009 th́ tuyên bố chính thức chấm dứt hợp đồng khai thác với VN. Nay BP kư hợp đồng với CNOOC và CNOOC ước lượng trữ lượng dầu khí của khu vực này có thể đến 22 tỉ thùng.
Ngoài ra, công ty dầu khí khổng lồ Chevron của Mỹ cũng cho biết là đang chuẩn bị kư dự án thăm ḍ dầu khí tại 3 lô ở Biển Đông với TC. Tuy cả hai công ty Anh-Mỹ này đều không nói rơ các lô sắp thăm ḍ nằm ở đâu trên Biển Đông nhưng giới nghiên cứu đều cho rằng “không thể ngoài” vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa v́ chỉ 2 vùng quần đảo này mới có thể có một trữ lượng dầu khí lớn như thế. Công ty dầu khí BP hiện nay do Bob Dudley, người Mỹ điều hành, sau khi Tổng Giám Đốc người Anh vừa bị mất chức sau vụ bể ống dấu ở vùng Louisiana và Florida.
Tóm lại, sự kiện điển h́nh nói trên đă chúng minh cụ thể Hoa Kỳ tăng cường can dự vào Biển Đông lúc này trước hết là v́ vấn đề kinh tế. Sau tuyên bố 24-7-2010 của Bà Hillary Clinton, sau hàng loạt hội nghị cấp cao ở Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn, việc hai công ty dầu khí BP [Anh] nhưng do Mỹ đứng đầu và Chevron [Mỹ] đang chờ kư kết hợp đồng khai thác dầu khí hàng chục tỉ USD với Trung Cộng chứng tỏ Hoa Kỳ đă đạt được mục đích cốt lơi. Mọi sự ồn ào phản đối của Hà Nội hay Bắc Kinh hay hết Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông này đến Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông khác chỉ là hoả mù cho các mưu toan của TC và VC mà thôi.
Sách lược xâm chiếm của Trung Cộng và chủ trương bán Nước của Việt Cộng
“Sách lược xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Trung Cộng” và “chủ trương hiến biển dâng đảo cho Trung Cộng của Việt Cộng” là hai vấn đề khác nhau. Nhưng thật ra “tuy hai mà một” nên người viết xin được gom chung vào một mục để tránh phải lập lại và dài ḍng.
Hơn 700 trăm năm xưa, sau 3 trận chiến đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc ra ngoài Đất Việt, vua Trần Nhân Tôn [1279-1293] đă để lại di chúc: “Các ngươi chớ quên nước lớn thường làm trái đạo. Hoạ muôn đời của ta là Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới, luôn luôn bầy đặt chuyện để gây hấn. Không thôn tính được th́ gậm nhấm đất đai của ta. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn. Một tấc đất cũng không để lọt vào tay ngoại bang. Đấy là di chúc cho con cháu muôn đời.”
Với Trung Cộng, ngay sau khi chiếm trọn Hoa-lục, Mao Trạch Đông đă khơi dậy chủ nghiă “bá quyền Đại-Hán” nhằm bành trướng trên đất dưới biển bằng đủ mọi phương cách ngọai giao, chính trị và nhất là quân sự. Biển Đông hay Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa Trường Sa là mục tiêu đầu tiên và cốt lơi của Trung Cộng. Điều không may hay nghiệt ngă của lịch sử là VN lại rơi vào tay bọn “nội gián” Việt Cộng nên Trung Cộng đă lấn chiếm được một phần Vịnh Bắc Việt, Hoàng Sa và một phần Trường Sa và với đà này th́ dân tộc Việt sẽ rơi vào bành trướng một ngày không xa!
Dưới đây là một số trường hợp xâm chiếm Biển Đông điển h́nh tiêu biểu của Trung Cộng với sự tiếp tay đắc lực của “nội gián” Việt Cộng:
-Ngày 4-9-1958, Trung Cộng vừa công bố chủ quyền lănh hải 12 hải lư, bao gồm Hoàng Sa Trường Sa [mà TC gọi là Tây Sa Nam Sa] là 10 ngày sau, với sự cho phép của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng vội vàng gửi công hàm cam kết tôn trọng; tức gián tiếp dâng Hoàng Sa Trường Sa cho TC.
-Ngày 19-1-1974, lợi dụng lúc Mỹ rút quân ra khỏi VN, Trung Cộng xua quân chiếm trọn Hoàng Sa; Việt Cộng giữ thái độ im lặng đồng loă hay “nội gián” v́ trước đó 2 năm, tháng 2-1972, Cục Đo Đạc và Bản Đồ, trực thuộc thủ tướng Việt Cộng, đ ă xóa tên Hoàng Sa Trường Sa và thay vào đó tên Tây Sa Nam Sa của TC.
-Ngày 14-3-1988, vào lúc “cơm không lành, canh không ngọt” giữa Bắc Kinh và Hà Nội, TC xua quân xâm chiếm 7 vị trí của nhóm đảo Trường Sa; Việt Cộng phản đối cho có phản đối như thường lệ, sau đó để yên cho TC chiếm giữ và xây dựng thành căn cứ quân sự ngày càng vững chắc.
-Ngày 25-12-2000, TC ép buộc VC kư hiệp ước phân bố lại Vịnh Bắc Việt để chiếm của VN hơn 20 ngàn km2 vùng Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa. Chẳng những Lê Công Phụng, trưởng đoàn đàm phán nói ngược lại là “không mất biển mà c̣n có lợi” mà chính Bộ-trưởng Ngoại Giao VC Nguyễn Duy Niên c̣n trắng trợn nói với báo chí “Bạch Long Vĩ được hưởng lănh hải 15 hải lư tức được thêm 3 hải l ư” trong lúc sự thật th́ VN đă bị mất trên 20 ngàn km2 biển quanh đảo này. Điều ghi nhận ở đây nữa là, sau hiệp ước vùng Vịnh Bắc Việt 25-12-2000, Trung Cộng không ngừng bắn giết bừa băi ngư dân VN hành nghề trong vùng Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa, VC hoặc im lặng hoặc phản đối cho có phản đối và TC th́ ngày càng hung hăn hơn.
-Ngày 6 và 7-5-2009, lợi dụng việc LHQ cho mở rộng thềm lục địa [từ 200 ra 350 hải lư], TC cho phép VC nộp hồ sơ “mở rộng” nhưng thực ra là “giới hạn” thềm lục địa VN ở 200 hải lư và gạt Hoàng Sa Trường Sa ra ngoài hải phận VN dành cho TC.
Qua các động thái của Trung Cộng ở Biển Đông, chúng ta có thể nhận ra sách sách lược xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Bắc Kinh diễn tiến như sau :
1. Lấn chiếm, bằng mọi phương cách, kể cả xâm lăng vơ lực [như các trường hợp tiêu biểu nói trên] rồi tuyên bố lung tung bất chấp lư lẽ để gây hỏa mù và vừa gây áp lực vừa lôi kéo hợp tác.
2. Đàm phán song phương, để dễ hù họa, o ép, mua chuộc [như các hiệp ước nêu trên giữa Bắc Kinh và Hà Nội, hoàn toàn thua thiệt về phía VN nhưng Hà Nội luôn luôn dối gạt và tuyên truyền ngược lại là thắng lợi.
3. Thực tế hiển nhiên hay đặt trước sự đă rồi hay t́nh trạng hiện hữu [Trung Cộng đă triệt để áp dụng các phương thức này và đă hưởng lợi lớn trong các hiệp ước trước đây].
Xin được kết thúc vấn đề “Biển Đông với Hoa Kỳ” và “Hoàng Sa Trường Sa với Trung Cộng và Việt Cộng” ở đây. Xin mời đọc bài 3, trong loạt bài viết cho Ngày Hoàng Sa San Jose 22-1-2011, với nội dung : “Từ hiệp ước ngày 25-12-2000 với Bắc Kinh đến hồ sơ ngày 6 và 7-5-2009 nộp LHQ, Việt Cộng toan tính dâng 20 ngàn km2 Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Cộng qua Luật Biển LHQ.”
LS Nguyễn Thành, Justice & Peace Committee for Paracel & Spratly Islands of VN

Hoa Kỳ sẽ tăng cường quân lực ở Đông Nam Á
 
Bộ quốc pḥng Mỹ mới đây cho biết Hoa Kỳ đang xem xét tới việc tăng cường thêm nữa sự hiện diện quân sự trong vùng Á châu Thái b́nh dương, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Phát ngôn viên Geoff Morrell cho biết như thế hôm thứ tư tại cuộc họp báo ở Ngũ giác đài trong lúc sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc đang làm cho nhiều nước Đông Á cảm thấy lo ngại về triển vọng an ninh trong khu vực. Mời quí vị xem Duy Ái tŕnh bày thêm chi tiết trong tiết mục Nh́n Về Á Châu sau đây.
 
Đảo Guam nơi có các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở Thái b́nh dương
Đảo Guam nơi có các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở Thái b́nh dương
 
Phát ngôn viên Geoff Morrell của Bộ Quốc pḥng Hoa Kỳ cho biết giới hữu trách ở Washington đang xem xét tới những phương thức nhằm tăng cường sức mạnh quân sự trong khu vực Á châu Thái b́nh dương, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Ông Morrell nói rằng mới đây Hoa Kỳ đă thảo luận với Australia về việc để cho quân đội Mỹ được sử dụng một số cơ sở ở nước này. Ông đề cập tới việc Hoa Kỳ hiện có một mối quan hệ tốt đẹp với Singapore và có quyền tiếp cận các cơ sở ở quốc gia thành phố này; và nói thêm rằng kế hoạch tái bố trí lực lượng tới đảo Guam của Mỹ ở Thái b́nh dương cũng giúp cho sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á được mạnh mẽ hơn.
Ông Morrell phát biểu như vậy tại cuộc họp báo ở Ngũ giác đài hôm thứ tư (26 tháng 1, 2011) vừa qua, giữa lúc sự lớn mạnh nhanh chóng của quân đội Trung Quốc đang làm cho nhiều nước trong vùng Đông Á cảm thấy lo ngại về triển vọng an ninh của khu vực. Các nước láng giềng nhỏ hơn và yếu hơn của Trung Quốc ở Đông Nam Á đặc biệt lo ngại về điều được cho là thái độ bá quyền của Bắc Kinh trong thời gian gần đây liên quan tới vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo ở biển Nam Trung Hoa mà Việt Nam gọi là Biển Đông. Trong lúc các nước ASEAN đang ra sức t́m kiếm một giải pháp ḥa b́nh cho vụ tranh chấp này với Trung Quốc, một số nước hội viên đă t́m cách tăng cường khả năng hải quân trong vài năm gần đây. Tin tức báo chí cho hay Việt Nam đă đặt mua 6 tiềm thủy đĩnh của Nga, và Malaysia cũng mua các tàu ngầm mới của Pháp trong lúc Indonesia đă đề ra kế hoạch tăng gấp đôi số tàu ngầm của ḿnh.
Giáo sư Simon Tay là người đứng đầu Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế ở Singapore. Ông cho biết các nước Á châu có những cảm nhận phức tạp trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và mong muốn Hoa Kỳ tiếp tục duy tŕ sự hiện diện mạnh mẽ trong khu vực. Ông nói:
"Chúng tôi nh́n Trung Quốc với những mối hy vọng về mặt kinh tế nhưng chúng tôi lo ngại về vấn đề chính trị và an ninh. Chúng tôi trông đợi Hoa Kỳ tiếp tục mang lại ổn định và ḥa b́nh, vốn là nền tảng của sự tăng trưởng và thịnh vượng của chúng tôi."
Trong khi đó ở vùng Đông Bắc Á, sự hậu thuẫn của Bắc Kinh đối với Bắc Triều Tiên và vụ xích mích ngoại giao nghiêm trọng giữa Trung Quốc và Nhật Bản hồi tháng 9 liên quan tới một dăy đảo nhỏ ở Hoàng Hải đă khiến Nhật Bản điều chỉnh sách lược quốc pḥng để ứng phó với Trung Quốc. Hồi đầu tháng này, Bộ trưởng Quốc pḥng Hoa Kỳ Robert Gates đă tán dương việc Nhật Bản quyết định di chuyển những nguồn lực quân sự từ miền bắc gần Nga tới những ḥn đảo ở vùng tây nam gần Trung Quốc. Ông Gates cũng cho rằng nếu không có liên minh pḥng thủ Mỹ-Nhật th́ Trung Quốc có lẽ đă có những hành động hung hăn hơn với các nước láng giềng.
Ông Tsuneo Akaha là người giữ chức Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á của Viện Nghiên cứu Quốc tế Monterey ở California. Ông nói rằng sách lược quốc pḥng mới của Nhật phản ánh sự quan tâm đối với Trung Quốc:
"Lư do quan trọng nhất là sự khuyếch trương của quân đội Trung Quốc, đặc biệt là trong khả năng hải quân viễn dương, và những diễn tiến mới đây liên quan tới loại chiến đấu cơ tàng h́nh mới, cùng với việc Trung Quốc đă bố trí và dự định chế tạo thêm tàu ngầm để họ có thể phóng chiếu sức mạnh của ḿnh tới những nơi xa hơn."
Ông Akaha cũng cho biết chính phủ ở Tokyo ủng hộ việc Hoa Kỳ tăng cường hợp tác quân sự với các quốc gia vùng Đông Nam Á. Ông nói thêm như sau:
"Điều này có thể nói là đă mang lại cho Hoa Kỳ một sự khích lệ về chính trị và một cơ sở cho tư duy chiến lược để giao tiếp chặt chẽ hơn với các nước Đông Nam Á. Diễn tiến này cũng giúp củng cố sự tin tưởng của Nhật Bản bởi v́ chừng nào mà Hoa Kỳ c̣n có mặt ở đó th́ an toàn của hoạt động hàng hải quốc tế c̣n được bảo đảm."
Ông Mă Chấn Cương, cựu Đại sứ Trung Quốc ở London, là Giám đốc Viện Nghiên cứu Vấn đề Quốc tế Trung Quốc. Ông nói rằng Trung Quốc không muốn xảy ra xung đột với Hoa Kỳ, nhưng rủi ro sẽ gia tăng nếu các nước khác không ngớt nhấn mạnh tới điều gọi là “mối đe dọa của Trung Quốc.”
Ông nói: "Đương nhiên là nếu một số người Mỹ nhất định không chịu từ bỏ lối suy nghĩ của thời Chiến tranh Lạnh, nhất định cho rằng Trung Quốc là địch thủ hoặc đối thủ tiềm năng của Hoa Kỳ, và thậm chí c̣n thách thức những lợi ích cốt lơi của Trung Quốc, th́ quan hệ giữa hai nước có thể rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Đó là điều mà Trung Quốc không muốn xảy ra. V́ vậy tôi nghĩ rằng việc Hoa Kỳ và Trung Quốc phát triển hợp tác về an ninh là phù hợp với lợi ích của hai nước và tôi không nghĩ rằng việc hai nước đối đầu với nhau hay giao chiến với nhau là một việc tất nhiên."
Hầu hết các nhà phân tích t́nh h́nh Á châu cho rằng trong t́nh h́nh hiện nay Hoa Kỳ cần tiếp tục tiến hành những cuộc đối thoại và giao lưu quân sự với Trung Quốc để giảm thiểu mối rủi ro xảy ra những vụ hiểu lầm và căng thẳng có thễ dẫn tới chỗ đối đầu giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Bắc Kinh đă cắt đứt cuộc đối thoại quân sự với Hoa Kỳ hồi năm ngoái sau khi Washington loan báo kế hoạch bán cho Đài Loan một số vũ khí trị giá 6,4 tỉ đô la.
Bộ trưởng Quốc pḥng Hoa Kỳ Robert Gates đă đến thăm Trung Quốc hồi thượng tuần tháng này trong khuôn khổ của những nỗ lực nhằm xây dựng lại mối liên hệ giữa quân đội hai nước. Tuy nhiên quân đội Trung Quốc cho đến nay vẫn chưa chấp nhận đề nghị của ông Gates là thiết lập một cơ chế để thực hiện những cuộc đối thoại thường xuyên giữa đôi bên về các vấn đề an ninh

Ảnh hưởng Domino của cuộc cách mạng Hoa Lài tại Tunisia
Le Minh
 
Liên tục mấy tuần qua, các cuộc biểu t́nh, xuống đường của người dân Tunisia đă khiến Tổng thống Ban Ali phải cuốn gói trốn chạy ra nước ngoài, và chính phủ lâm thời cũng đang đứng trước áp lực từ dân chúng phải sớm tổ chức bầu cử để lập ra một chính phủ dân chủ.
Nh́n cảnh người dân Tunisia xuống đường lật đổ nhà độc tài Ben Ali, người ta đă tiên đoán rằng rồi đây khí thế này sẽ lan tỏa sang các nước lân cận trong khu vực Bắc Phi.
 
Quả thật vậy, nức ḷng với khí thế xuống đường của người dân Tunisia, hôm qua Thứ Ba 25/01, người dân Ai Cập đă xuống đường, với những cuộc biểu t́nh rầm rộ, đ̣i chấm dứt 30 năm cai trị độc quyền của Tổng thống Mubarak.
Câu chuyện bắt đầu từ Tunisia
Câu chuyện người Tunisia rầm rộ xuống đường mà chỉ sau vài đêm đă khiến Tổng thống Ben Ali phải cao bay xa chạy, tưởng chừng là chuyện huyền thoại.
Chuyện bắt đầu từ anh sinh viên nghèo 26 tuổi Mohamed Bouazizi, bán hàng rong trên đường phố, nhưng bị cảnh sát tịch thu cả gánh hàng rong. Buồn bực và vô vọng v́ vốn liếng duy nhất mà anh có được để làm kế sinh nhai đă bị cảnh sát tịch thu, anh quyết định phản kháng bằng cách biến ḿnh thành ngọn đuốc sống. Cái chết thương tâm, vô vọng của anh đă làm bùng lên ngọn lửa vốn sẵn có trong xă hội Tunisia nghèo đói, đầy rẫy bất công. Hàng ngàn người tham dự tang lễ của anh và và chính cảm xúc của họ đă biến tang lễ thành cuộc biểu t́nh tuần hành và nhân rộng lên khắp cả nước.
Tunisia, một nước Bắc Phi bé nhỏ với hơn 10 triệu dân là một thuộc địa cũ của Pháp. Trong những năm gần đây tỷ lệ thất nghiệp trong thành phần thanh niên gia tăng. Nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đă không kiếm ra việc làm, đành phải bỏ trốn sang Pháp t́m việc. Hàng ngũ sinh viên tốt nghiệp không kiếm được việc làm ngày càng đông đảo, đă kết nối với nhau qua hệ thống internet, trên các trang mạng xă hội.
Họ căm ghét chế độ độc tài thối nát, tham nhũng của Tổng thống Ben Ali, người giữ chức vụ này 5 nhiệm kỳ kể từ năm 1987. Anh em, gịng họ của tổng thống và các quan chức chính phủ thi nhau biển thủ tài sản quốc gia.
Mặc dầu chính quyền của Ben Ali thẳng tay đàn áp đối lập, biểu t́nh nhưng sự căm ghét trong ḷng người dân Tunisia càng lúc dâng cao. Do đó khi ngọn đuốc của anh sinh viên Mohamed Bouazizi bùng lên th́ nó khiến khối thuốc nổ trong ḷng người dân Tunisia đặc biệt là giới trẻ, bộc phát mạnh mẽ không có ǵ ngăn cản được.
Hơn 100 người biểu t́nh bị tử thương trong nhiều cuộc đàn áp dữ dội của các lực lượng an ninh. Khi lực lượng cảnh sát bắt đầu yếu thế th́ quân đội được lệnh thẳng tay đàn áp người biểu t́nh. Thế nhưng, gió đă xoay chiều, quân đội từ chối ủng hộ Tổng thống Ben Ali và thế là ông ta và gia đ́nh phải cuốn gói chạy.
Trong lúc không khí đấu tranh sôi sục diễn ra ở Tunisia, người ta tiên đoán rằng sẽ có hiệu ứng Domino dây chuyền lan sang các nước Bắc Phi độc tài chung quanh như Libya, Ai Cập.
Sau cách mạng Hoa Lài, chính phủ lâm thời đă ra lệnh bắt giữ 33 người thân trong gịng họ bên vợ của cựu tổng thống Ben Ali. Và hôm nay, thông qua Interpol,Tunisia đă yêu cầu chính phủ Canada giải giao cựu tổng thống Ben Ali cùng gia đ́nh với tội danh biển thủ công quỹ quốc gia.
Tính cho đến thời điểm này, tuy chuyện giải giao chưa thể thực hiện được v́ nhiều trở ngại công pháp quốc tế, nhưng cái ngày Ben Ali và thân quyến phải trả lời trước công chúng Tunisia chắc chắn sẽ xảy ra.
Hương thơm cách mạng Hoa Lài thổi sang Ai Cập
Trong những tuần qua, người ta đă bàn tán đến ảnh hưởng dây chuyền Donimo từ cuộc cách mạng Hoa Lài tại Tunisia sang các nước lân cận, ám chỉ chính phủ độc tài của hai nước Libya và Ai Cập.
Được sự giúp sức của hệ thống internet và các trang mạng xă hội, hương thơm của cuộc cách mạng Hoa Lài đă lan tỏa nhanh chóng hơn người ta tưởng.
 
Tương tự như cựu Tổng thống Ben Ali của Tunisia, Tổng thống Mubarak của Ai Cập làm tổng thống gần hết 5 nhiệm kỳ với mỗi nhiệm kỳ là 6 năm, vị chi ông ngồi tại vị gần 30 năm kể từ tháng 10 năm 1981. Năm nay gần 83 tuổi, Mubarak đang tính đến chuyện dọn đường cho con trai Gamal Mubarak, 47 tuổi lên kế vị khi nhiệm kỳ của ông chấm dứt vào tháng 10 năm nay. Dư luận Ai Cập hiện nay đang bàn tán chuyện này.
Chán ghét sự cai trị độc tài của Mubarak, trong khi đời sống của người dân trở nên khó khăn trong những năm gần đây, cộng thêm nguồn cảm hứng từ hương lài của cuộc cách mạng Tunisia, hôm Thứ Ba 25/1, đă các cuộc biểu t́nh đ̣i chấm dứt sự cai trị của Mubarak đă đồng loạt nổ ra khắp nơi trên đất nước Ai Cập, từ Cairo đến Alexandria, Suez và Ismailia, kể cả các thành phố chạy dọc theo hạ lưu của sông Nile.
Các đoàn người biểu t́nh hô to “Đả đảo, đả đảo Mubarak”, hoặc “Mubarak, Saudi Arabia đang chờ mày đó”, ám chỉ nơi dừng chân của Mubarak một khi phải tháo chạy khỏi Ai Cập, giống như trường hợp của cựu Tổng thống Ben Ali.
Chưa hết, sục sôi với khí thế biểu t́nh, Phong Trào “Thanh Niên 6 Tháng 4″ dùng trang Facebook kêu gọi người dân tiếp tục xuống đường Thứ Tư ngày hôm sau và “phải tiếp tục cho đến ngày mai, cho đến khi Mubarak cút”. Lời kêu gọi c̣n nói “Ngày mai chúng ta không đi làm, không đến trường. Tất cả chúng ta đều xuống đường, tay trong tay đoàn kết v́ đất nước Ai Cập. Chúng ta sẽ có hàng triệu”
Một người bán thịt ở trung tâm thủ đô Cairo nói với phóng viên “Phải có thay đổi, nhất định là như vậy. Những kẻ già nua phải cút để đám trẻ hơn lên làm việc”.
Một điều thú vị là nào giờ người dân Ai Cập rất sợ ba-tong, mật vụ cảnh sát thế nhưng hôm nay họ xuống đường với khí thế mạnh mẽ, tay trong tay hô vang các khẩu hiệu. Người bên dưới đường đă ngoắt tay kêu gọi những người đang đứng xem trên các ban-công cùng tham gia và nhiều người trong số đó đă vui vẻ xuống đường nhập vào ḍng người biểu t́nh. Noi gương người thanh niên Tunisia, đă có đến 5 trường hợp thanh niên Ai Cập muốn biến thân ḿnh thành ngọn đuốc công lư.
Hôm nay Thứ Năm, tuy t́nh h́nh có lắng đọng hơn v́ chính phủ gia tăng đàn áp, cấm đoán biểu t́nh, nhưng trên trang Facebook các thành viên đối lập kêu gọi mọi người trở lại đường phố vào ngày mai Thứ Sáu.
Ngày mai chắc chắn sẽ hứa hẹn nhiều cuộc biểu t́nh nổ ra dữ dội hơn, bởi v́ hôm nay ông Mohamed ElBaradei, một chuyên gia và là cựu tổng Thư Kư Cơ Quan Nguyên Tử Năng LHQ, đă tuyên bố ông sẽ trở về quê hương, để nhập cuộc với đoàn biểu t́nh để lật đổ Mubarak.
Ảnh hưởng Domino và điều tất yếu của các cuộc cách mạng
Như ta đă thấy, cuộc cách mạng Hoa Lài tại Tunisia đă truyền cảm hứng cho người dân bị áp bức tại các nước Bắc Phi trong một thời gian ngắn ngủi. Rơ ràng hệ thống Internet và các trang mạng xă hội đă nâng hiệu quả và tốc độ lan truyền của các lời kêu gọi xuống đường lên gấp bội. Mặc cho nhà cầm quyền ra sức ngăn cản, chặn tường lửa các trang mạng này nhưng người ta vẫn có thể vượt qua được.
Nỗi lo sợ trong mỗi con người là điều tự nhiên, nhưng ở một thời điểm nào đó khi áp bức bất công dồn người dân thấp cổ bé họng đến đường cùng rồi th́ sự giận dữ bung trào ra như một cái ḷ xo, không có ǵ có thể ngăn cản nổi.
“Ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh” là quy luật của xă hội loài người. Hương Lài Tunisia sẽ tiếp tục lan tỏa đến các quốc gia như Miến Điện và các nhà nước cộng sản như Cu Ba, Việt Nam, Bắc Hàn, Trung Quốc,… trong một ngày không xa!
Lê Minh

Mỹ ngờ rằng giới lănh đạo dân sự Trung Quốc không kiểm soát được quân đội
 
Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Robert Gates (trái) hội đàm với chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào (phải) (11/01/2011)
Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Robert Gates (trái) hội đàm với chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào (phải) (11/01/2011)
REUTERS/Larry Downing
Đức Tâm RFI
 
Việc quân đội Trung Quốc tiến hành vụ thử tiêm kích tàng h́nh J-20 hôm qua, 11/01/2011, trong lúc bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ đang công du Bắc Kinh rơ ràng là một hành động phô trương sức mạnh quân sự. Tuy nhiên, sự kiện này đă làm dấy lên những câu hỏi liên quan đến mức độ kiểm soát bộ máy quân sự của giới lănh đạo dân sự Trung Quốc.
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và các lănh đạo dân sự cấp cao khác đă làm cho phái đoàn Hoa Kỳ có cảm giác là họ không hề biết rằng vụ thử tiêm kích tàng h́nh đă diễn ra vài giờ trước khi họ tiếp bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ tại Đại Lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh.
Một quan chức cấp cao của bộ Quốc pḥng Mỹ được báo The New York Times trích dẫn, thuật lại rằng hôm qua, 11/01/2011, trong cuộc gặp chủ tịch Hồ Cẩm Đào, khi ông Gates đề nghị trao đổi về vụ thử máy bay th́ phái đoàn Hoa Kỳ nhận thấy rơ là vị lănh đạo cao nhất của Trung Quốc cũng như các cộng sự dân sự của ông đă ngạc nhiên về yêu cầu này và lúng túng không trả lời. Vài giờ trước cuộc gặp, các bức ảnh chụp chiếc tiêm kích tàng h́nh J-20 đă được đăng trên một web site quân sự không chính thức của Trung Quốc.
Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Robert Gates nói với các nhà báo là « ban lănh đạo dân sự tỏ ra ngạc nhiên về vụ thử này ». Ông cho biết thêm là măi về sau, chủ tịch Hồ Cẩm Đào mới thừa nhận là có vụ thử và trấn an rằng điều đó hoàn toàn không có ǵ liên quan đến chuyến viếng thăm của Trung Quốc của bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ.
Về mặt ngoại giao, đương nhiên là lănh đạo bộ Quốc pḥng Hoa Kỳ nói rằng ông tin vào phát biểu của chủ tịch Trung Quốc nhưng đồng thời, ông nhấn mạnh, sự kiện này củng cố thêm mối quan ngại là bộ máy quân sự Trung Quốc đôi khi có những hành động vượt ra ngoài tầm kiểm soát của giới lănh đạo dân sự trong lúc nhiều quan chức quốc pḥng Mỹ than phiền là họ không hề biết các ư đồ thực sự của quân đội Trung Quốc.
Từ Hồng Kông, một chuyên gia về quân sự Trung Quốc cho biết là vụ thử máy bay kéo dài khoảng 15 phút. Chiếc máy bay có hai cánh giống như chiếc tiêm kích tàng h́nh F-22 của Mỹ, chỉ chạy trên phi đạo một sân bay ở Thành Đô, Tứ Xuyên.
Theo thiết kế, tiêm kích tàng h́nh J-20 của Trung Quốc được trang bị tên lửa, có thể được tiếp liệu trên không cho phép hoạt động xa biên giới. Trong nhiều năm, đây là một kế hoạch bí mật của quân đội Trung Quốc. Theo các quan chúc Mỹ, Trung Quốc cho tiết lộ phần nào thông tin về các vụ thử loại máy bay này là nhằm biểu dương sức mạnh với Hoa Kỳ.
Ông Hồ Cẩm Đào là chủ tịch Quân Ủy Trung ương, cơ quan lănh đạo cao nhất của quân đội và đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngoài ông Tập Cận B́nh, người vừa được bầu làm phó chủ tịch Quân Ủy Trung ương, người được coi là sẽ kế nhiệm chủ tịch Trung Quốc, th́ ông Hồ Cẩm Đào là lănh đạo dân sự duy nhất có quyền lực tối cao đối với bộ máy quân sự Trung Quốc. Tuy nhiên, khó có thể biết là ông Hồ Cẩm Đào kiểm soát các hoạt động thường nhật của quân đội đến mức độ nào.
Một số quan chức Mỹ coi vụ thử tiêm kích J-20 là một hành động thách thức quyền lực của chủ tịch Hồ Cẩm Đào v́ vừa qua, ông đă ra lệnh cho quân đội làm dịu những căng thẳng trong quan hệ với Lầu Năm Góc. Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ tới Bắc Kinh theo lời mời của chủ tịch Hồ Cẩm Đào và trong vài ngày nữa, ông sẽ công du Hoa Kỳ và hội đàm với tổng thống Barack Obama. Ông Joseph S. Ney Jr, giáo sư đại học Havard, nguyên là thứ trưởng bộ Quốc pḥng Mỹ nói rằng ông không ngạc nhiên về việc chủ tịch Hồ Cẩm Đào không có thông tin về vụ thử máy bay. Theo chuyên gia này, « quân đội Trung Quốc thường xuyên có chương tŕnh hoạt động thường nhật của họ mà không cần đến sự chấp thuận của lănh đạo chính trị ».
Đây không phải là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc hoạt động một cách độc lập. Năm 2007, các quan chức ngoại giao Trung Quốc đă không thể nào trả lời các câu hỏi của phía Mỹ về vụ quân đội Trung Quốc bắn thử loại tên lửa phá hủy vệ tinh. Thậm chí, Washington cũng không chắc là chủ tịch Hồ Cẩm Đào được thông báo đầy đủ về vụ này.
Một trong những mục tiêu chuyến công du Trung Quốc của bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ là thuyết phục Bắc Kinh minh bạch hóa chương tŕnh hiện đại hóa bộ máy quân sự, hiện đang gây ra nhiều quan ngại cho Hoa Kỳ và các nước trong khu vực. Đề nghị này, b́nh thường ra, khó có thể được chính quyền Bắc Kinh chấp nhận một cách thành thực và nó sẽ trở thành viển vông, nếu như giới lănh đạo dân sự Trung Quốc không kiểm soát được hoàn toàn bộ máy quân sự.
MỸ - TRUNG -
Bài đăng : Thứ tư 12 Tháng Giêng 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ tư 12 Tháng Giêng 2011

Trung Quốc bành trướng quân sự, Hoa Kỳ lo ngại
Một cuộc diễu binh trước Tử Cấm Thành tại Bắc Kinh (Reuters)
Tuấn Thảo
 
Máy bay tiêm kích tàng h́nh, hỏa tiễn chống hàng không mẫu hạm, vệ tinh điều khiển tên lửa tầm xa. Đó là những loại vũ khí mà Bắc Kinh đang ráo riết thử nghiệm song song với việc hiện đại hóa lực lượng quân sự. Nhật báo Le Figaro hôm nay dành nguyên một trang để nói về sự kiện này.
Về phần ḿnh, báo Le Monde đánh dấu hỏi : không hiểu v́ sao Trung Quốc lại cho bay thử chiến đấu cơ tàng h́nh J20 ngay vào lúc chủ tịch Hồ Cẩm Đào tiếp đón bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Robert Gates tại Bắc Kinh. Cho dù Bắc Kinh khẳng định đây chỉ là một sự trùng hợp về mặt thời điểm, cho dù Trung Quốc tuyên bố là việc hiện đại hóa quân đội không nhắm vào một quốc gia nào cả, nhưng giới quan sát không tin là như vậy.
Chuyến đi của ông Robert Gates là nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Đó cũng là dịp để cho hai bên hàn gắn quan hệ, một năm sau khi Bắc Kinh cắt đứt các cuộc tiếp xúc quân sự với Washington, để phản đối việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan. Nhưng theo Le Monde, h́nh ảnh của chiếc máy bay tàng h́nh phản ánh cuộc chạy đua vũ trang giữa hai cường quốc. Trong lănh vực này, đôi bên cạnh tranh nhiều hơn là xích lại gần nhau.
Báo Le Figaro chỉ chia sẻ một phần nhận định của Le Monde. Trong bài viết mang tựa đề Hoa Kỳ đo lường thế lớn mạnh quân sự của Trung Quốc, Le Figaro đánh giá : việc cho bay thử chiến đấu cơ tàng h́nh có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, Bắc Kinh muốn cho Washington thấy tiềm lực quân sự của ḿnh. Nếu Hoa Kỳ muốn củng cố quan hệ đối tác chiến lược, th́ trước hết Mỹ phải xem Trung Quốc như một nước ngang hàng, chứ không có chuyện kẻ dưới người trên. Hiểu theo cách thứ nh́, theo Le Figaro th́ từ trước tới nay, Hoa Kỳ vẫn đ̣i hỏi Trung Quốc phải rơ ràng minh bạch trong việc hiện đại hóa quốc pḥng. Chính cũng v́ thế mà Bắc Kinh không che giấu thông tin liên quan đến máy bay tàng h́nh J20 nhân chuyến viếng thăm của ông Robert Gates.
Tiềm năng thực thụ của quân đội Trung Quốc
Nói như vậy th́ Bắc Kinh đă hiện đại hóa lực lượng quân sự đến mức nào ? Theo Le Figaro, ngoài máy bay tiêm kích tàng h́nh, Trung Quốc c̣n dự tính chế tạo 4 chiếc hàng không mẫu hạm với trọng lượng 60 ngàn tấn từ đây cho đến 10 năm tới. Nhưng theo ông Robert Willard, đô đốc hạm đội Thái B́nh Dương, Trung Quốc có thể cho ra ḷ chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên kể từ năm 2012. Vào năm 1998, Bắc Kinh đă mua lại một chiếc hàng không mẫu hạm của Ukraina, đem về sửa chữa tại cảng Đại Liên và dùng tàu này để cho phi công tập dượt.
Đáng quan tâm hơn nữa, theo Le Figaro, là Trung Quốc sắp hoàn chỉnh loại tên lửa có khả năng bắn ch́m hàng không mẫu hạm. Điều đó có thể răn đe trực tiếp các hạm đội triển khai trong vùng biển Thái B́nh Dương. Đây là một tên lửa đạn đạo có tầm bắn hơn 1500 cây số, cải tiến từ loại tên lửa Đông Phương 21-D đời mới. Cuối năm qua, Bắc Kinh đă phóng lên không gian rồi đưa vào quỹ đạo 5 chiếc vệ tinh nhân tạo (Yaogan). Theo các chuyên gia, các vệ tinh này là nhằm để điểu khiển tên lửa bắn trúng mục tiêu, và như vậy để nâng cao độ chính xác của loại vũ khí này một khi được phóng ra.
Trong năm qua, ngân sách quốc pḥng do Trung Quốc công bố lên đến 80 tỷ đôla và cứ mỗi năm tăng khoảng 15%. Đó là số liệu chính thức, nhưng theo chuyên gia Ralph Cossa, thuộc Viện nghiên cứu chiến lược và quan hệ quốc tế, ngân sách mà Bắc Kinh dành để hiện đại hóa quân sự có thể cao hơn nhiều : từ gấp 3 đến gấp 4 lần. Theo các nhà quan sát, sự minh bạch của Trung Quốc chỉ mang tính tương đối. Trong lănh vực thông tin quốc pḥng, chính quyền Bắc Kinh không bao giờ muốn lộ tẩy.

V́ sao Bắc Kinh có lợi khi mua công trái phiếu của Châu Âu ?
Song song với lănh vực quân sự quốc pḥng, c̣n có mặt trận tranh giành tầm ảnh hưởng kinh tế. Báo Le Monde trích dẫn quan điểm của John Foley, phóng viên của hăng tin Reuters, phân tích v́ sao Trung Quốc sẽ hưởng lợi khi mua công trái phiếu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Liên hiệp châu Âu hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Bắc Kinh. Theo số liệu thống kê gần đây nhất, nội trong tháng 12 vừa qua, mức nhập khẩu hàng Trung Quốc vào châu Âu đă tăng thêm 18%. Do ràng buộc về mặt cơ cấu, một nước thành viên trong Liên hiệp châu Âu không thể nào đơn phương phá giá đồng tiền để giành lấy thêm thị phần.
Về phần Bắc Kinh, việc mua công trái phiếu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được ước lượng khoảng 11 tỷ euro. Con số này chẳng thấm thía ǵ so với kho dự trữ ngoại tệ mà Bắc Kinh đang nắm trong tay. Theo số liệu do ngân hàng trung ương Trung quốc công bố hôm qua (11/1), kho dự trữ này hiện lên đến 2198 tỷ euros, một con số kỷ lục. Đối với Bắc Kinh, chi 11 tỷ euros để mua công trái phiếu chỉ tương đương với 0,5% kho dự trữ ngoại tệ, tức là chẳng có ảnh hưởng ǵ đáng kể. Bù lại, Trung Quốc sẽ hưởng ít nhất là 3 món lợi. Thứ nhất, khi giúp Bồ Đào Nha thanh toán nợ công, Bắc Kinh hy vọng là Lisboa sẽ giúp Trung Quốc thắt chặt quan hệ thương mại với các nước thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha, trong đó quan trọng nhất vẫn là Angola, một nước có nhiều nguồn tài nguyên, đặc biệt là trữ lượng dầu hỏa dồi dào. C̣n trong trường hợp của Tây Ban Nha, Bắc Kinh muốn nhắm tới các nước châu Mỹ La tinh vốn có quan hệ bạn hàng khá chặt chẽ với Madrid.
Món lợi thứ nh́ là Bắc Kinh muốn được châu Âu công nhận quy chế ‘‘kinh tế thị trường’’. Một khi được cấp quy chế này, Trung Quốc sẽ thoát khỏi các loại thuế chống bán phá giá của châu Âu. Món lợi thứ ba là Bắc Kinh muốn châu Âu lấy quyết định dứt khoát gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Trung Quốc. Kể từ hồi cuối tháng 12, nhiều nguồn tin từ Bruxelles cho biết là châu Âu đang xem xét khả năng hủy bỏ lệnh cấm này v́ theo cách suy tính rất thực dụng của một số nước thành viên, lệnh cấm đó không đem lại hiệu quả nào, mà châu Âu lại gạt qua một bên một thị trường đầy tiềm năng, nếu không nói là béo bở.

T́nh báo Mỹ: Hệ thống tên lửa đối hạm của Trung Quốc chưa hoạt động hiệu quả
 
Xe chở tên lửa Trung Quốc DF-21A tại Bảo tàng Bắc Kinh (wikipedia.org)
Xe chở tên lửa Trung Quốc DF-21A tại Bảo tàng Bắc Kinh (wikipedia.org)
Đức Tâm
 
Hôm qua, 03/01/2011, theo báo trên mạng Bloomberg News, Cơ quan T́nh báo Hải quân Mỹ - Navy Intelligence, nhận định rằng Trung Quốc chưa có khả năng sử dụng một cách hiệu quả tên lửa chống hàng không mẫu hạm và các tàu chiến khác của Hoa Kỳ.
Vào lúc Trung Quốc đă phát triển phiên bản đầu tiên hệ thống tên lửa đối hạm, th́ các quan chức t́nh báo Hải quân Mỹ đă đánh giá thấp tác động của dự án bởi v́ Trung Quốc chưa bắn thử loại hỏa tiễn này trên quy mô lớn hay chưa thành lập đơn vị tên lửa.
Theo chính quyền Washington, Trung Quốc đă có một bản thiết kế khả thi về tên lửa đối hạm nhưng Hoa Kỳ và có thể cả Trung Quốc đều không biết hiệu quả của loại vũ khí này sẽ ra sao khi chưa có những thử nghiệm đầy đủ.
Tuyên bố ngày hôm qua của t́nh báo Mỹ khẳng định và bổ xung những phát biểu của đô đốc Hoa Kỳ Robert Willard, tư lệnh Bộ chỉ huy Mỹ ở Thái B́nh Dương, đăng tải trên báo Nhật Bản Asahi Shimbun, hồi cuối tháng 12/2010, theo đó, Trung Quốc mới có được khả năng tác chiến ban đầu trong lĩnh vực này.
Theo giới chuyên gia quân sự, Bắc Kinh đă đạt được những bước tiến trong việc chế tạo hỏa tiễn diệt tàu chiến. Loại tên lửa đạn đạo này có điểm khác biệt là nó từ trên không trung lao xuống mục tiêu, do vậy, rất khó chống đỡ. Những tiến bộ của Trung Quốc làm cho Hoa Kỳ lo ngại v́ loại tên lửa đạn đạo đối hạm có thể làm cho hải quân Mỹ mất đi vị trí thống trị trong khu vực Thái B́nh Dương.
Tháng chín năm ngoái, bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Robert Gates đă tuyên bố rằng những đầu tư của Trung Quốc vào vũ khí chống tàu chiến có thể đe dọa sự cách thức phát huy sức mạnh của Mỹ và giúp đỡ các đồng minh tại Thái B́nh Dương. Cho đến nay, 5 trong số 11 hàng không mẫu hạm của Mỹ tại Thái B́nh Dương vẫn hoạt động ở vùng biển quốc tế, gần Trung Quốc. Một trong những nhiệm vụ của các chiến hạm là bảo vệ Đài Loan trước mối đe dọa của Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo này.
Năm ngoái, Cơ quan T́nh báo Hải quân Mỹ cho biết tên lửa Trung Quốc DF-21D có tầm bắn 1500 km, có thể được phóng đi từ dàn phóng di động trên mặt đất và được thiết kế với chủ đích là tấn công, làm tê liệt hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ như phá hủy cầu tàu, pḥng máy và đài chỉ huy.
Tháng tám năm 2010, một quan chức cao cấp của Nhà Trắng, xin dấu tên, nói với các nhà báo là Hoa Kỳ tiếp tục lo ngại về sự phát triển chương tŕnh tên lửa đối hạm của Trung Quốc. Tuy nhiên, một trong những khó khăn chính mà quân đội Trung Quốc phải giải quyết là vấn đề phối hợp hệ thống tên lửa với các hệ thống khác như chỉ huy, kiểm soát, t́nh báo, trinh thám. Theo quan chức này, Trung Quốc c̣n cần nhiều thời gian th́ mới có thể phối hợp được các hệ thống để tác chiến có hiệu quả.
Cũng trong năm ngoái, ông Scott Bray, phụ trách hồ sơ Trung Quốc tại Cơ quan T́nh báo Hải quân Hoa Kỳ, cho biết là Trung Quốc đang phát triển mạng lưới radar đặt trên đất liền, phát hiện từ rất xa các tàu chiến Mỹ và từ năm 2000 đến nay, số lượng tàu trang bị vũ khí diệt tàu chiến đă tăng lên gấp ba, từ 12 lên tới 36.
T́nh báo Hải quân Mỹ nhận định, hiện nay, dường như Trung Quốc đă có hệ thống vệ tinh theo dơi, trinh thám các mục tiêu trong khu vực biển. Trước khi ấn nút, bộ phận phóng tên lửa nhận được các thông tin về mục tiêu từ hệ thống t́nh báo trên bộ và từ các phương tiện trinh thám khác như máy do thám, máy bay không người lái, tàu cá và đặc biệt hệ thống radar quét sóng xa OTH (Over-The-Horizon Radar). Khác với radar truyền thống hoạt động theo nguyên tắc phát sóng và nhận phản hồi từ mục tiêu, hệ thống radar OTH hoạt động theo nguyên lư phản hồi sóng của tầng điện ly trên bầu khí quyển quanh trái đất, do vậy, cho phép phát hiện được mục tiêu từ rất xa.
Theo Bloomberg News, các dân biểu thuộc đảng Cộng ḥa mới giành được đa số tại Hạ viện Mỹ khóa này chắc chắn rất quan tâm đến kế hoạch phát triển hệ thống tên lửa đối hạm của Trung Quốc và họ chủ trương phải có cách tiếp cận cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh, hỗ trợ mạnh mẽ các tập đoàn chế tạo các hệ thống pḥng thủ tên lửa như Lokheed Martin Corp và Raytheon Co.

Quân Lực Trung Quốc Đe Dọa Các Nước Láng Giềng và Hoa Kỳ
The Fourth Modernisation
Friend or Foe – Special Report on China’s place in the world
Nguồn: The Economist, 04-12-2010
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải
 
Trung Quốc trở thành một lực lượng quân sự phải đối phó trong vùng Tây Thái B́nh Dương. Hoa Kỳ nên phản ứng ra sao?
Vào 35 năm trước đây, Chủ Tịch Đặng Tiểu B́nh kết tội Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (People’s Liberation Army – PLA) là “bệ rạc, biếng nhác, tự cao tự đại, phung phí, và chậm chạp.” Mặc dù vậy, ba năm sau khi khởi sự canh tân đất nước, ông Đặng Tiểu B́nh đặt quân đội vào ưu tiên thứ tư sau nông nghiệp, kỹ nghệ, và khoa học. Khi vị tư lệnh hải quân đưa ra kế hoạch để biến Trung Quốc thành một lực lượng hải quân hùng mạnh của thế giới, ông ta đă không biết trước rằng ông phải đạt được mục tiêu này trước năm 2040.
Về sau hiện đại hóa quân đội đă trở thành một ưu tiên nhờ vào hai trường hợp Hoa Kỳ sử dụng hỏa lực tân tiến. Thứ nhất, việc Hoa Kỳ sử dụng vơ khí chính xác trong chiến dịch Desert Storm thuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất [1990-1991] đă làm cho Trung Quốc nhận thức được rằng không thể pḥng vệ bằng số lượng. Thứ hai, khi Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc hăm dọa Đài Loan bằng cách thử nghiệm hỏa tiễn vào năm 1996, Tổng Thống Bill Clinton đă ra lệnh cho hai hải đoàn xung kích với hàng không mẫu hạm tiến vào vùng eo biển Đài Loan. Một trong hai lực lượng này dẫn đầu bởi hàng không mẫu hạm mang một cái tên khiêu khích là USS Independence [Đài Loan muốn trở thành một quốc gia độc lập với Trung Quốc].
Sự đổ vỡ của Liên Bang Xô Viết đă thuyết phục những nhà lănh đạo Trung Quốc là một cuộc chạy đua vơ trang với một đại cường duy nhất sẽ phung phí tiền bạc và sẽ đe dọa đến uy quyền của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đối đầu để thử thách Hoa Kỳ là một việc vô nghĩa. Thay vào đó, Trung Quốc tập trung vào việc sản xuất vơ khí không đối sứng (asymmetric weapons). [Đây là loại vũ khí nhắm vào yếu điểm của kẻ thù tương đối mạnh].
Sự tiến bộ của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc rất khó có thể đo lường được với chiến lược phi chính thống này. Tây Phương có những quan điểm rất khác biệt nhau. Những nhà phân tách quân sự nhận thấy ưu thế của Hoa Kỳ trên biển bị đe dọa nhiều hơn trong vùng phía tây Thái B́nh Dương. Những chuyên viên an ninh của Trung Quốc thường chế giễu tất cả những tin đồn gây ra hốt hoảng. Ai đúng ai sai?
Vấn đề hiện đại hóa PLA nổi bật về ba lănh vực. Trước hết, Trung Quốc đă thiết lập cái mà Ngũ Giác Đài gọi là “chương tŕnh hỏa tiễn đạn đạo (ballistic missile) và hỏa tiễn hành tŕnh (cruise-missile) năng động nhất thế giới với căn cứ ở trên đất liền” Quân Đoàn Pháo Binh II của Trung Quốc trang bị hỏa tiễn với tầm ngắn 1,100 dặm nhắm vào Đài Loan và đang được cải thiện để bắn xa hơn, chính xác hơn và mang được đầu đạn lớn hơn. Quân Đoàn Pháo Binh II cũng đang cải thiện hỏa tiễn tầm trung, có khả năng mang theo đầu đạn quy ước hoặc nguyên tử. PLA cũng dàn trận hàng trăm hỏa tiễn hành tŕnh tầm xa bắn từ trên không hoặc từ mặt đất. PLA đang phát triển loại hỏa tiễn chống chiến hạm đầu tiên trên thế giới trang bị với một bộ phận mang theo đầu đạn nguyên tử và có khả năng từ bên ngoài quay trở lại bầu khí quyển để tăng phần hiệu quả.
Thứ hai, Trung Quốc đang cải tiến và bành trướng đội tầu ngầm. Những tầu ngầm này nay có thể đậu tại căn cứ mới hoàn tất ở Đảo Hải Nam, ở ngoài khơi bờ biển phía nam của Trung Quốc. Trong giai đoạn 8 năm tính đến 2002, Trung Quốc đă mua 12 tầu ngầm của Nga thuộc loại Kilo, đây là một cải tiến lớn so với loại tầu ngầm cũ thuộc loại Ming và Romeo. Kể từ lúc đó đến nay, Hải Quân Trung Quốc đă bắt đầu loại tầu ngầm do Trung Quốc vẽ kiểu có tầm xa và khó bị lộ, kể cả loại Jin chạy bằng nguyên tử trang bị hỏa tiễn đạn đạo và loại Shang, tầu ngầm tấn công chạy bằng nguyên tử. Trung Quốc có khoảng 66 tầu ngầm so với 71 tầu ngầm của Hoa Kỳ tương đối tối tân hơn. Theo Kokoda Foundation, một tổ chức nghiên cứu của Úc, Trung Quốc có thể có tới 85-100 chiếc tầu ngầm vào năm 2030.
Thứ ba, Trung Quốc tập trung cố gắng vào cái gọi là “informatisation” theo lối nói ngọng do Chủ Tịch Giang Trạch Dân sáng tạo ra vào năm 2002 để mô tả làm sao PLA cần phải hoạt động như một lực lượng duy nhất, biết sử dụng những dụng cụ đo lường vật lư bén nhậy (sensor), thông tin, chiến tranh điện tử và chiến tranh liên mạng. Trung Quốc ngày nay biết rơ hơn những ǵ đang xẩy ra phía xa trong Thái B́nh Dương nhờ vào sự phối hợp của vệ tinh, hệ thống ra đa vượt qua khỏi chân trời, hệ thống ra đa tần số cao ḍ t́m sát mặt đất, phi cơ thám thính không người lái và những vật dụng thăm ḍ dưới mặt nước.
Trung Quốc cũng đang chế tạo vơ khí hủy diệt vệ tinh. Các vệ tinh của Hoa Kỳ bị mờ bởi tia laser bắn từ mặt đất. Vào năm 2007, một hỏa tiễn đạn đạo phóng đi từ căn cứ không gian Xichang ở Sichuan phá vỡ một vệ tinh thời tiết – Đây không phải là một kỳ công, tuy nhiên đă làm các nước khác giận dữ v́ nó tạo ra 35,000 mảnh vụn trong không gian.
Tin tặc của Trung Quốc cũng bận rộn. Vào tháng 3 năm vừa qua, những nhà nghiên cứu Canada đă khám phá ra một hệ thống do thám bao gồm 1,300 máy điện toán, trong đó có nhiều máy nằm ở bên trong Trung Quốc, đă xâm nhập vào các hệ thống điện toán của chính phủ. Trung Quốc đă tấn công vào những mục tiêu của Đài Loan và Tây Phương ít nhất 35 lần trong một thập niên kết thúc vào năm 2009 theo Northrop Grumman, một công ty đấu thầu của Hoa Kỳ. Ngũ Giác Đài công nhận không rơ là PLA là thủ phạm của những cuộc tấn công này, nhưng lập luận rằng những nhà phân tách có thẩm quyền của Trung Quốc nhận thấy rằng vơ khi điện toán là quan trọng.
Vũ khí mới
Những chuyên viên quân sự Hoa Kỳ, Úc và Nhật Bản nghĩ rằng những vơ khí mới của Trung Quốc vừa kể trên tạo thành một đe dọa to lớn hơn là những kế hoạch nổi cộm như hạ thủy những hàng không mẫu hạm trong 10 năm tới. Ông Alan Dupont của Đại Học Sydney tại Úc nói rằng “những hỏa tiễn và vơ khi điện toán đang trở thành những vơ khí chọn lựa cho những quốc gia thua kém về vơ khi quy ước.”
Theo Trung Tâm Thẩm Định Chiến Lược và Ngân Sách (Centre for Strategic and Budgetary Assessments – CSBA), một viện nghiên cứu của Hoa Kỳ, hỏa lực của Trung Quốc sẽ đe dọa các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Á châu. Cho đến nay các căn cứ này được an toàn đối với mọi cuộc tấn công ngoại trừ vơ khí nguyên tử. Hỏa tiễn của Quân Đoàn Pháo Binh II của Trung Quốc có thể làm hệ thống pḥng vệ các căn cứ mất tác dụng, phá hủy các sân bay, cũng như một số lớn binh sĩ và chiến hạm. Nhật Bản hiện nay đă nằm trong tầm bắn của hỏa tiễn Trung Quốc. Một số hỏa tiễn này đang nhắm thẳng vào Đài Loan. Guam sẽ nằm trong tầm hỏa tiễn không bao lâu nữa.
Tầu ngầm, hỏa tiễn, và hỏa tiễn hành tŕnh chống chiến hạm đe dọa những hải đoàn xung kích bao gổm hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ trong ṿng 1,000 – 1,600 hải lư tính từ bờ biển Trung Quốc. Theo Ông Ross Babbage, một nhà phân tách quân sự Úc và là sáng lập viên của Kokoda Foundation, nếu Trung Quốc có hỏa tiễn chống chiến hạm, bay nhanh và không báo trước, rất khó mà có thể chống lại những hỏa tiễn này. Những vơ khí không gian và vơ khí điện toán mà Trung Quốc gọi là cái chùy của kẻ sát nhân trong cuộc tấn công bất ngờ được hoạch định để phá nát hệ thống điện tử tinh vi nhưng mong manh của Hoa Kỳ. Điều này làm cho quân lực của Hoa Kỳ mù một nửa và câm và những căn cứ và hàng không mẫu hạm càng dễ bị tấn công.
H́nh 2: Khả năng hỏa tiễn của Trung Quốc.
Nói tóm lại, khả năng tấn công của Trung Quốc đă tiến xa hơn là việc ngăn chặn Hoa Kỳ can thiệp vào bất cứ cuộc xung đột nào giữa Trung Quốc và Đài Loan. Ngày nay, Trung Quốc có thể phóng hỏa lực của ḿnh vượt xa giới hạn 12 dặm (19km) tính từ bờ biển nơi mà Hoa Kỳ đă một thời tự do tung hoành mà không cần suy đi nghĩ lại. Ông Okamoto, một nhà phân tách an ninh Nhật Bản, tin rằng chiến lược của Trung Quốc là kiểm soát hoàn toàn cái mà những kế hoạch gia gọi là chuỗi đảo thứ nhất (First Island Chain). Cuối cùng, Trung Quốc muốn chặn đứng khả năng của hạm đội của Hoa Kỳ về việc bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ ở vùng Tây Thái B́nh Dương.
Những viên chức cao cấp nhất của Hoa Kỳ đă để ư đến những biến chuyển trên. Năm ngoái, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Robert Gates báo động rằng “đầu tư [của những quốc gia như Trung Quốc] vào các lănh vực vơ khi điện toán, chống vệ tinh, chống chiến hạm, vơ khí không gian, và hỏa tiễn đạn đạo có thể đe dọa sự phát triển hỏa lực của Hoa Kỳ và yểm trợ đồng minh ở Thái B́nh Dương – đặc biệt là những căn cứ không quân tiền phương và những hải đoàn xung kích bao gồm hàng không mẫu hạm.”
Ông Ross Babbage nói thẳng thừng hơn: “kế hoạch quốc pḥng hiện nay là vô giá trị.” Ông và những nhà phân tách thuộc CSBA lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải suy tính lại về chiến lược tại Thái B́nh Dương. Hoa Kỳ cần phải tăng cường các căn cứ và khả năng phá vỡ những cuộc tấn công của Trung Quốc với các vật nghi trang và bằng cách phân tán rộng phi cơ và chiến hạm trong toàn vùng. Quân lực của Hoa Kỳ phải có kế hoạch tiếp vận tốt hơn và có thể chiến đấu ngay cả trong trường hợp hệ thống tin tức bị hư hỏng.
Một việc nghiêm trọng là quân lực của Hoa Kỳ cần phải có khả năng hủy diệt hệ thống trinh sát, do thám điện tử và thẩm định thiệt hại của Trung Quốc. Một số những hệ thống này được bảo vệ bởi một hệ thống đường hầm ngoài tầm hủy diệt của vơ khí Hoa Kỳ.
Thái B́nh chỉ là cái tên
Những nhà phê b́nh thường nói rằng những người tham dự vào chiến tranh lạnh đang mắc phải căn bệnh gọi là hội chứng mất kẻ thù (enemy deprivation syndrome). Để bắt đầu, một số người có cảm tưởng sai lầm rằng chi tiêu về quốc pḥng của Trung Quốc gia tăng. Ngân sách của PLA giữ cùng một nhịp độ với tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product – GDP) trong 10 năm vừa qua. Trong hai thập niên trước đó tỉ lệ của ngân sách này so với GDP giảm. Các chuyên viên không đồng ư với nhau về kích thước của ngân sách quốc pḥng của Trung Quốc mà nhà cầm quyền chỉ tiết lộ có một phần. Ông Sam Perlo-Freeman thuộc Viện Nghiên Cứu Ḥa B́nh Quốc Tế Stockholm ước tính rằng chi phí quốc pḥng của Trung Quốc trong năm 2009 là $99 tỉ theo giá biểu của năm 2008. Một số ước tính khác cao hơn và con số chính thức của Trung Quốc là $70 tỉ. Hoa Kỳ dự trù một chi phí quốc pḥng là $663 tỉ. Tỉ lệ chi tiêu quốc pḥng trên GDP của Trung Quốc không bằng một nửa con số của Hoa Kỳ và thấp hơn các con số của Trung Quốc trong những năm 1990s. Ông Perlo-Freeman nói: “Không có nhiều bằng chứng của một cuộc chạy đua vơ trang.”
Một số người nghi ngờ về phẩm chất của vơ khí do Trung Quốc chế tạo. Một đô đốc hải quân Hoa Kỳ về hưu nói rằng phần lớn dụng cụ của Nga mà Trung Quốc mua là đồ vô dụng. Mặc dù đạt được một số tiến bộ, Trung Quốc chậm trễ về hướng dẫn, kiểm soát, động cơ turbine, dụng cụ chế tạo máy móc, dụng cụ định bệnh và nhận diện (diagnostic and forensic equipment), và việc phác họa và chế tạo với sự trợ giúp của máy điện toán. GS Dupont nói: “Trung Quốc đă đạt một bước tiến xa nhưng hiện đại hóa quân đội từ nay về sau trở nên khó khăn hơn.”
Một số người nghi ngờ về nhân lực của Trung Quốc. PLA chuyên nghiệp hơn so với thời kỳ c̣n là một quân đội nông dân, nhưng thiếu kinh nghiệm. Ông Nigel Inkster thuộc Viện Nghiên Cứu Quốc Tế về Chiến Lược (International Institute for Strategic Studies – IISS) nhớ lại rằng một trong những người sáng lập ra hải quân Trung Quốc đă nói: “Không phải là tôi không biết lái tầu, nhưng vấn đề là tôi chưa bao giờ nh́n thấy biển.”
Những vấn đề phức tạp như chiến tranh tầu ngầm cần nhiều năm mới nắm vững. Ông Christian Le Mière thuộc IISS nói rằng: “Khi ông chiến đấu, sẽ thấy có nhiều lỗ hổng. Khi chưa chiến đấu, ông không biết những lỗ hổng đó nằm ở đâu.” Vị đô đốc về hưu nghĩ rằng quân lực Trung Quốc thiếu sự tin cậy. Điều này sẽ làm họ chậm chạp ở chiến trường. Ông nói: “Chúng ta cho lực lượng của chúng ta trách nhiệm và sáng kiến. Đối với họ, điều này rất kỵ”
Ông Robert Ross thuộc Đại Học Harvard lư luận rằng những người bi quan đánh giá quá cao mối đe dọa của Trung Quốc và đánh giá quá thấp sức mạnh của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có khả năng để theo rơi tầu ngầm của đối phương tốt hơn. Hoa Kỳ tài giỏi hơn về vơ khí điện toán và ít nhược điểm hơn Trung Quốc về không gian – cũng chỉ v́ Hoa Kỳ có sẵn hệ thống dư pḥng. Trung Quốc sẽ gặp khó khăn để xâm nhập hệ thống pḥng thủ chiến hạm bằng những biện pháp trả đũa và bằng cách ngụy trang điện tử của Hoa Kỳ. Ông Carlyle Thayer của Viện Nghiên Cứu Quốc Pḥng Úc ghi nhận rằng Hoa Kỳ đă đưa vào Thái B́nh Dương 32 trong số 53 tầu ngầm tấn công nhanh và ba tầu ngầm nguyền tử loại Ohio.
Mặc dù cuộc tranh luận này có những sự kiện không chắc chắn, nhưng có ba điều sau đây mọi người đồng thuận. Thứ nhất là Trung Quốc đă buộc chiến hạm Hoa Kỳ phải suy nghĩ làm sao và khi nào có thể tiến gần vào bờ biển Trung Quốc. Càng gần bờ bao nhiêu, các chiến hạm Hoa Kỳ càng phải đối phó với hỏa tiễn và tầu ngầm và càng có ít thời gian để phản ứng. Bất cứ ai lái một hàng không mẫu hạm trị giá $15 tỉ – $20 tỉ với một thủy thủ đoàn khoảng 6,000 người sẽ phải suy nghĩ hai lần trước khi chấp nhận thêm rủi ro. Để phủ nhận quyền sở hữu biển cả mà Hoa Kỳ đă ngự trị nhiều thập niên vừa qua, Trung Quốc không cần phải kiểm soát duyên hải của ḿnh mà chỉ cần đe dọa những chiến hạm của Mỹ tại đó. Ông Hugh White, cựu viên chức về an ninh và quốc pḥng Úc tiên đoán rằng miền tây Thái B́nh Dương sẽ trở thành “vùng không hoạt động của hải quân.”
Thứ hai, Trung Quốc tăng cường khả năng sức mạnh. Tầu ngầm, phi cơ chiến đấu, hỏa tiễn, chiến tranh Internet và điện tử, trước đây tồi tệ, nay là một mối đe dọa. Vơ khí của Trung Quốc sẽ tiếp tục cải thiện, và quân lực Trung Quốc sẽ gặt hái được kinh nghiệm. Nếu kinh tế không lụn bại, ngân sách sẽ gia tăng về mức tuyệt đối hay theo tỉ lệ của GDP. Nếu mọi thứ khác không thay đổi, Trung Quốc có thể phóng hỏa lực vào sân sau của ḿnh dễ hơn là Hoa Kỳ phải phóng hỏa lực qua Thái B́nh Dương. Như ông Gates nói: “Những căn cứ trú ẩn an toàn trong vùng tây Thái B́nh Dương mà hải quân Hoa Kỳ hưởng trong gần cả sáu thập niên vừa qua sẽ phải chịu rủi ro.”
Thứ ba, mặc dầu Hoa Kỳ có thể trả đũa Trung Quốc, nhưng trước hết Hoa Kỳ phải vượt qua một số trở ngại. Chi thiêu về quân sự của Hoa Kỳ tại Á châu bị lu mờ bởi sự cần thiết cắt giảm chi phí của chính phủ nói chung và những ưu tiên quân sự khác như Afghanistan. Ông Jonathan Pollack thuộc Brookings Institution, cho thấy rằng một vài ư kiến như thay thế hàng không mẫu hạm bằng tầu ngầm, sẽ gập sự chống đối của hải quân và của những dân biểu muốn bảo vệ quyền lợi của cử tri. Ông Pollack nói tiếp: “Đối với nhiều sĩ quan, đặc tính để nhận biết hải quân gắn liền vào hàng không mẫu hạm và hỏa lực mà các hàng không mẫu hạm này phóng ra. Giảm số lượng của các hàng không mẫu hạm là một tiến tŕnh khó nhọc.” Trên hết, những thay đổi lớn về hoạch định quân sự cần vài thập niên: Hoa Kỳ cần nghĩ về Trung Quốc vào năm 2025.
Tất cả những phân tích trên đây đều hướng về một nguyên tắc quan trọng. Hoạch định quân sự khác với ngoại giao. Những nhà ngoại giao chú trọng đến những ǵ họ nghĩ rằng nhà nước có khuynh hướng làm, nhưng những kế hoạch gia quân sự phải làm việc với những ǵ mà họ nghĩ nhà nước có thể làm. Ư định thay đổi và nhà nước có thể làm lạc hướng. Nếu ông có trách nhiệm bảo vệ quốc gia của ông, ông cần phải có khả năng đối phó ngay cả với những đe dọa không chắc có thực.
Lập luận này cũng đúng với Trung Quốc. Hoa Kỳ không ngần ngại tham chiến trong những năm vừa qua. Cách đây không lâu một đô đốc Trung Quốc đă về hưu ví hải quân Hoa Kỳ như một kẻ tội phạm “lang thang ngay ngoài cửa của một gia đ́nh.” Sức mạnh của Hoa Kỳ vào những năm 1990s đă làm cho Trung Quốc cảm thấy bất an. V́ vậy Trung Quốc đă biến cải PLA để hỗ trợ chính sách đối với Đài Loan và bảo vệ vùng duyên hải quan trọng về phương diện kinh tế. Tuy nhiên, bởi gia tăng bảo vệ an ninh cho chính ḿnh, Trung Quốc làm giảm an ninh của các nước láng giềng và Hoa Kỳ. Có thể, Trung Quốc không có ư định sử dụng vơ khí một cách hung hăng. Nhưng những kế hoạch gia quân sự Hoa Kỳ không thể dựa vào tiên đoán này. Do đó họ phải có phản ứng.
Theo chiều hướng này, hai quốc gia không bao giờ có ư định làm hại, nhưng có thể bắt đầu cảm thấy mỗi đe dọa từ quốc gia kia. Nếu ông không trang bị vơ khí, ông bỏ ngỏ để dễ dàng bị tấn công. Nếu ông vơ trang, ông đe dọa quốc gia kia. Ông Herbert Butterfield, một sử gia Anh gọi trường hợp này là “một t́nh trạng khó khăn tuyệt đối và một nan giải không thể giảm bớt được”. Đây là một lư do tại sao mối quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ có thể trở nên tồi tệ.

Báo chí Nhật Bản: Trung Quốc đă chuẩn bị kế hoạch đánh chiếm Biển Đông

Quân đội Trung Quốc
Quân đội Trung Quốc
REUTERS
Trọng Nghĩa
 
Ngay từ năm 2009, quân đội Trung Quốc đă hoàn tất chiến thuật đánh chiếm các ḥn đảo do nước khác nắm giữ tại vùng Biển Đông và đă huấn luyện lực lượng theo phương án đó. Cho dù trước mắt ít có khả năng chiến lược thôn tính Biển Đông được thực hiện, nhưng chủ trương này cho phép Bắc Kinh giành ưu thế trong các cuộc đàm phán.
Trên đây là tiết lộ của tờ báo Nhật Bản Asahi Shinbum trong số ra ngày hôm nay 31/12/2010.
Một nguồn tin từ quân khu Quảng Châu của Trung Quốc, đặc trách vùng Biển Đông đă cho tờ báo Nhật Bản biết là kế hoạch đánh chiếm đă được soạn thảo từ đầu năm 2009. Chiến thuật này dựa trên hai trụ cột chính : Sử dụng oanh tạc cơ dội bom ồ ạt để làm suy yếu hệ thống pḥng thủ của ḥn đảo được chọn làm mục tiêu tấn công, và tiếp theo đó dùng tàu đổ bộ tung quân lên đánh chiếm.
Một cách cụ thể, theo chiến thuật tạm gọi là tiền pháo hậu xung này, không quân Trung Quốc, phối hợp với các đơn vị không chiến của hải quân, sẽ bất ngờ mở những đợt không kích vào các cảng quân sự và tàu thuyền đặt căn cứ tại đảo được chọn làm mục tiêu.
Theo chiến thuật này, khả năng chiến đấu của đối phương phải bị loại trừ sau vỏn vẹn một tiếng đồng hồ, để mở đường cho quân đổ bộ lên đảo, sử dụng các loại tầu đổ bộ như chiếc Côn Luân Sơn, thuộc loại lớn nhất của hải quân Trung Quốc hiện nay. Tàu này có trọng tải 18.000 tấn và có sân đáp cho bốn máy bay trực thăng cùng một lúc. Để ngăn không cho đối phương tiếp ứng, đồng thời với chiến dịch tấn công đánh chiếm mục tiêu, các đơn vị chính thuộc hai hạm đội Bắc Hải và Đông Hải của Trung Quốc sẽ có mặt tại những vị trí ngoài khơi để chặn không cho tàu sân bay Mỹ đến gần chiến trường.
Vấn đề, theo ghi nhận của Asahi Shinbum, là sau khi kế hoạch được soạn thảo xong, Trung Quốc đă cho quân đội rèn luyện ngay hai chiến thuật này trong các cuộc tập trận của họ trên quy mô rộng lớn tại vùng Biển Đông.
Vào tháng 5 năm 2009, Không quân và các đơn vị không chiến của Hải quân Trung Quốc đă bắt đầu rèn luyện kỹ thuật ném bom một cách nghiêm túc. Qua tháng 7 năm 2010, ba hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải của Trung Quốc đă tiến hành một cuộc tập trận chung. Đây là cuộc thao diễn hải quân lớn nhất của Trung Quốc từ trước đến nay, huy động tới một nửa số chiến hạm chủ chốt của hải quân nước này. Máy bay ném bom và tên lửa chống tàu cũng được sử dụng trong cuộc tập trận. Một nguồn tin quân sự từ quân khu Quảng Châu từng tham gia cuộc tập trận đó khẩng định : « Chúng tôi đă chứng minh được năng lực phá hủy một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ ».
Đến đầu tháng 10, một cuộc tập trận bắn đạn thật huy động 1.800 lính thủy quân lục chiến Trung Quốc lại được tiến hành trên một khu vực trải dài từ Trạm Giang thuộc tỉnh Quảng Đông cho đến tận đảo Hải Nam gần đấy.
Các bài tập huấn bao gồm việc đánh chiếm một ḥn đảo ở Biển Đông đang nằm dưới quyền kiểm soát của một nước khác. Tàu đổ bộ và xe tăng đă được dùng để tung quân lên bờ, trong khi lực lượng tấn công nỗ lực phá nhiễu điện từ và tên lửa do các đơn vị đóng vai quân địch bắn ra.
Đối với tờ báo Nhật Bản, trái với thông lệ là giữ kín bí mật các cuộc tập trận, quân đội Trung Quốc lần này đă mời 273 tùy viên quân sự từ 75 nước đến quan sát cuộc diễn tập. Mục tiêu của Bắc Kinh rơ ràng là muốn gởi thông điệp đến các nước đang tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại vùng Biển Đông, trong số này có Việt Nam, hiện đang kiểm soát 28 ḥn đảo ở vùng Trường Sa.
Một nguồn tin từ chính quyền Trung Quốc đă xác định với phóng viên báo Asahi tại Bắc Kinh rằng : « Mục đích của chúng tôi là giành ưu thế trong đàm phán lănh thổ bằng cách gây sức ép thông qua việc chứng tỏ cho các nước khác nhau thấy rằng chúng tôi có khả năng lấy lại các ḥn đảo bất kỳ lúc nào ».
Theo Asahi, hồi đầu tháng này, Bắc Kinh đă chứng minh rằng họ không quan tâm đến các cuộc đàm phán ngoại giao với các quốc gia thành viên ASEAN.
Một cuộc họp cấp tổng vụ trưởng bộ Ngoại giao đă mở ra ngày 23/12 tại Côn Minh, giữa Trung Quốc và ASEAN. Trong khi các đại diện ASEAN muốn thảo luận về các hướng dẫn áp dụng cụ thể, th́ Trung Quốc chỉ nhắc lại nội dung bản Tuyên bố về cách ứng xử tại Biển Đông kư kết năm 2002, kêu gọi giải quyết ḥa b́nh cuộc xung đột nhưng không trực tiếp giải quyết các tranh chấp lănh thổ đang tồn tại.
Khi nêu bật mưu đồ của Trung Quốc tại vùng Biển Đông, nhật báo Asahi đă nhắc lại mối quan ngại mà Bắc Kinh gây ra nơi các thành viên ASEAN cũng như Hoa Kỳ, với tuyên bố của họ hồi đầu năm nay cho rằng Biển Đông thuộc diện "lợi ích cốt lơi", kèm theo là những động thái khác nhau để đảm bảo rằng tất cả các nước trong vùng hiểu rơ những ǵ Trung Quốc đ̣i hỏi.
Đối với tờ báo, Nhật Bản cũng có thể bị ảnh hưởng do tranh chấp lănh thổ với Trung Quốc trên quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông.

Châu Âu sắp gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Trung Quốc
 
Chủ tịch LHCAu Van Rompuy tiếp thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo (Reuters)
Chủ tịch LHCAu Van Rompuy tiếp thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo (Reuters)
Anh Vũ RFI
 
Le Figaro hôm nay cho biết theo nhiều nguồn thạo tin tại Bruxelles, châu Âu đang chuẩn bị cho một bước ngoặt trong quan hệ với Trung Quốc : Đầu năm 2011, Bruxelles có thể sẽ gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Bắc Kinh được áp dụng từ hơn 20 năm, sau vụ thảm sát Thiên An Môn 1989.
Những người thân cận của bà Catherine Ashton, đại diện cao cấp về đối ngọai của Liên Hiệp Châu Âu c̣n cho biết « quyết định này có thể sẽ rất mau chóng ». Theo Le Figaro th́ việc bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Trung Quốc đă được nhắc tới trong một báo cáo mật tŕnh tại hội nghị thượng đỉnh châu Âu mới đây. Bản báo cáo mô tả lệnh cấm vận này như là « một trở ngại chính » cho quan hệ châu Âu - Trung Quốc trên chính sách đối ngoại cũng như an ninh. Tài liệu nói trên c̣n ghi rơ Liên Hiệp Châu Âu sẽ phải « rút ra kết luận thực tế và đi trước » trên hồ sơ này.
Tờ báo nhắc lại : « Quyết định cấm bán vũ khí cho Trung Quốc được châu Âu đưa ra ngay sau lệnh cấm vận của Hoa Kỳ, nhưng những năm qua cho thấy lệnh cấm đó không đem lại hiệu quả nào. Trung Quốc vẫn tiếp tục tồn tại dưới chế độ độc đảng. Hơn nữa giờ đây nước này đă giàu lên gấp 15 lần so với năm 1989 và như vậy Bắc Kinh có thể tự ḿnh t́m được phương tiện trang bị quốc pḥng cho ḿnh ». Bằng chứng là Trung Quốc đă có thể bắt chước chế tạo thành công loại máy bay ném bom và chiến đấu của Nga. Sắp tới đây Trung Quốc c̣n cho ra đời cả tàu sân bay có trang bị tên lửa tầm xa để thách thức với hạm đội của Mỹ trên Thái B́nh Dương.
Một nhà ngoại giao châu Âu thừa nhận giờ đây Trung Quốc đang sẵn sàng cạnh tranh với châu Âu trên mọi mặt trận. Quá tŕnh hiện đại hóa của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở công nghiệp vũ khí và v́ thế mà châu Âu trong tương lai có nguy cơ bị mất đi sự hợp tác công nghệ đầy béo bở đối với Bắc Kinh.
Le Monde nhận thấy, với cái nh́n thực dụng hơn, hầu hết các nước trong Liên Hiệp Châu Âu đang thay đổi lập trường trên vấn đề này. Pháp, Tây Ban Nha từ lâu nay vẫn đấu tranh để chấm dứt lệnh cấm. Mới đây th́ có thêm Hà Lan, Anh Quốc và cả Đức nữa cho dù cũng có phản đối lại một cách yếu ớt. Tờ báo nhận thấy giữa một lục địa giàu có nhất hành tinh như châu Âu và một thị trường Trung Quốc đầy hấp dẫn th́ cũng sẽ chẳng có chuyện cho không nhau.
Việc hủy lệnh cấm bán vũ khí sẽ c̣n là một cuộc mặc cả sôi nổi về việc bảo hộ đầu tư, sở hữu trí tuệ, mở cửa thị trường hay trên vấn đề nguyên vật liệu cơ bản. Đó là những mặt trận mà châu Âu vẫn cứng giọng với Bắc Kinh. Trung Quốc biết châu Âu mong chờ ǵ ở họ và họ cũng biết sẽ đề nghị lại châu Âu cái ǵ.

Biển Đông Đầy Sóng Gió.
A Sea of Troubles.
Simon Long, Columnist, Singapore.
The World in 2011, The Economist.
December 2010
Bản tiếng Việt: Nguyễn Quốc Khải
 
Đ̣i hỏi chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) mà hiện nay Trung Quốc đang chiếm đóng, sẽ rất có thể đưa đến xung đột.
Trong 10 năm vừa qua, giới hàn lâm và những học giả về luật pháp có những cuộc tranh luận về một đề tài mà chỉ một số ít người hiểu biết. Đó là chủ quyền trên một số đảo, đảo san hô, và những băi cát trong vùng Biển Đông (South China Sea). Tuy nhiên, trong năm 2010, vùng biển này đă trở thành một vấn đề được chú ư tới. Trung Quốc tập luyện hải quân ở đây. Hoa Kỳ gửi hàng không mẫu hạm nguyên tử George Washington tuần tra ở khu vực này, kể cả cuộc viếng thăm Việt Nam đầu tiên của chiến hạm này. Hoa Kỳ, Trung Quốc và những quốc gia Đông Nam Á ven biển tranh căi về Biển Đông. Những cuộc tranh căi này sẽ làm inh tai nhức óc trong năm 2011.
Có bốn diễn biến gặp nhau ở vùng Biển Đông. Một là chính quyền Obama tái xác nhận vai tṛ của Hoa Kỳ với tư cách một cường quốc ở Á châu, một thế lực duy tŕ ḥa b́nh, và cộng tác viên đối với một số quốc gia láng giềng của Trung Quốc. Thứ hai, Trung Quốc xác định là một cường quốc ở trong vùng. Thứ ba, Trung Quốc tăng cường biểu dương sức mạnh quân sự để hỗ trợ vị thế cường quốc. Thứ tư, cho đến nay chưa t́m kiếm ra một diễn đàn nào hiệu quả để có thể đưa những tranh chấp ra bàn căi và sau cùng có thể đi đến một giải pháp.
Trước khi đến Việt Nam, hàng không mẫu hạm George Washington đă hoạt động ở ngoài khơi Nam Hàn. Hoa Kỳ ủng hộ luận điểm của Nam Hàn – được hỗ trợ bởi một một cuộc điều tra quốc tế - theo đó, Bắc Hàn chịu trách nhiệm về việc đánh ch́m chiến hạm Cheonan của Nam Hàn vào tháng 3, 2010. Điều này đặt Hoa Kỳ vào vị thế đối nghịch với Trung Quốc khi quốc gia này từ chối không quy trách nhiệm cho một đồng minh lâu năm. Biến cố Cheonan cũng đă đưa đến một cuộc biểu dương lực lượng hải quân bởi cả hai quốc gia ở ngoài hải phận của Bắc và Nam Hàn. Trong năm 2011, sự căng thẳng sẽ gia tăng. Ngoài khác biệt về lập trường liên quan đến vụ chiến hạm Cheonan và chiến thuật thuyết phục Bắc Hàn hủy bỏ vơ khí nguyên tử, hai nước sẽ có hai đường lối khác nhau đối với việc thay đổi cấp lănh đạo tại Bắc Hàn.
Căng thẳng có thể gay gắt hơn tại vùng Biển Đông so với vụ Nam Bắc Hàn. Việc Trung Quốc công bố lập trường coi Biển Đông là một vấn đề quan trọng chính như Tây Tạng và Đài Loan đă làm Hoa Kỳ quan ngại và đă khiến Hoa Kỳ xác định quyền lợi quốc gia đối với vấn đề tự do lưu thông ở Biển Đông. Lập trường này được công bố trong những buổi họp ôn ḥa và b́nh thường của Diễn Đàn Quốc Gia Đông Nam Á được tổ chức tại Hà Nội. Gần một nửa trong số 27 quốc gia có mặt tại hội nghị đă bầy tỏ sự ủng hộ đối với lời kêu gọi của Hoa Kỳ về việc t́m phương thức mới để giải quyết tranh chấp.
Trên hết, Trung Quốc (Đài Loan), Brunei, Mă Lai, Phi Luật Tân, và Việt Nam đều đ̣i hỏi chủ quyền lănh thổ trong Biển Đông. Ngay cả Nam Dương cũng có một phần lănh hải nằm trong bản đồ của Trung Quốc. Nhưng đ̣i hỏi chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) hiện nay Trung Quốc đang chiếm đóng, sẽ rất có thể đưa đến xung đột. Chính v́ vậy mà sự thân thiết giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, một đối thủ truyền thống của Trung Quốc, mang tính cách khiêu khích. Điều này sẽ c̣n thể hiện mạnh mẽ hơn vào năm 2011, khi Hoa Kỳ tăng cường thỏa hiệp với Việt Nam về sự hợp tác nguyên tử dân sự. Đối với những quan sát viên Trung Quốc, việc này nhắc nhở đến sự hợp tác gây tranh căi tương tự với Ấn Độ và có vẻ liên hệ tới chiến lược be bờ của Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, Trung Quốc đă gây ra sự nghi ngờ của các nước láng giềng. Các tầu của Trung Quốc coi Biển Đông như một cái hồ của Trung Quốc. Những bản đồ bí ẩn của Trung Quốc cho thấy Trung Quốc đ̣i hỏi chủ quyền trên những vùng rất lớn vượt ra ngoài cả những phạm vi có thể chứng minh được dù sử dụng cả chủ quyền trên các ḥn đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong năm 2010, Trung Quốc phô trương bằng cách cho một tầu ngầm nhỏ cắm cờ dưới ḷng biển sâu đến hơn hai dặm (chính xác là 3,759 thước).
Tầm ảnh hưởng của hải quân Trung Quốc không những bành trước sâu hơn mà c̣n phát triển xa hơn từ bờ biển. Vào năm 2010, Sri Lanka khánh thành một hải cảng do Trung Quốc xây ở phía nam tại Hambantota. Công việc xây cất một hải cảng khác đang được tiến hành tại Gwadar, Pakistan. Chiến hạm của Trung Quốc đă viếng thăm Myanmar lần đầu tiên. Tất cả những sự việc này làm tăng sự nghi ngờ của Ấn Độ về một chiến lược gọi là “chuỗi hạt trai” nhắm vào việc ngăn chặn sự vận chuyển của tầu bè Ấn Độ. Đây là một phần của việc bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc và Biển Đông sẽ là trọng điểm của mối lo ngại.
Thời gian để chuẩn bị cho một ngày mưa gió
Sự lo ngại này được tăng cường bởi hai khía cạnh đặc biệt của việc hiện đại hóa quân lực Trung Quốc. Thứ nhất, chương tŕnh không được công bố về việc chế tạo hàng không mẫu hạm. Thứ hai, chương tŕnh chế tạo hỏa tiễn đạn đạo chống chiến hạm lần đầu tiên trên thế giới mà Trung Quốc và một báo ngoại quốc đă giới thiệu là một loại vơ khí nhắm tiêu diệt các hàng không mẫu hạm và sẽ làm đảo lộn chiến thuật trên biển.
Tuy nhiên nhiều chiến lược gia Hoa Kỳ tiếp tục tin tưởng rằng quan niệm Trung Quốc bắt kịp sức mạnh kỹ thuật của Hoa Kỳ là vượt xa thực tế. Trong khoảng thời gian sắp tới, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục là một lực lượng hàng hải đứng đầu trong Biển Đông, nhưng không đủ để có thể bảo đảm nền ḥa b́nh. Công việc này đ̣i hỏi những diễn đàn để giải quyết những tranh chấp trong vùng chứ không chỉ là những nơi để tṛ chuyện. Trung Quốc đă có thể ấn định những điều kiện để tranh luận về Biển Đông bằng cách từ chối tất cả những việc bàn căi về những tranh chấp ngoại trừ những buổi họp song phương.
Trong năm 2011, t́nh h́nh sẽ rơ rệt hơn đối với Đông Nam Á rằng một hoạt động ngoại giao đa phương sẽ mang lại lợi ích cho cả vùng. Quyền lợi của Đông Nam Á đ̣i hỏi một cơ chế để giải quyết những căng thẳng nội bộ một cách dễ dàng – thí dụ như giữa Nam Dương và Mă Lai hoặc giữa Cam Bốt và Thái Lan. Chiếc dù Hoa Kỳ tiếp tục bảo vệ sự an toàn trong vùng nhưng sẽ không chống được mưa măi măi.

TT Nam Triều Tiên tỏ dấu hiệu thay đổi lập trường về miền Bắc
Steve Herman | Seoul Thứ Tư, 29 tháng 12 2010

Tổng thống Nam Triều Tiên Lee Myung-bak nói rằng một chủ trương quân sự cứng rắn không thôi sẽ không xoa dịu được căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên
H́nh: AP
Tổng thống Nam Triều Tiên Lee Myung-bak nói rằng một chủ trương quân sự cứng rắn không thôi sẽ không xoa dịu được căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên

Ngày hôm nay, Tổng thống Nam Triều Tiên Lee Myung-bak đă bày tỏ ư muốn đối thoại với B́nh Nhưỡng và nói rằng một chủ trương quân sự cứng rắn không thôi sẽ không xoa dịu được căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.
Ông Lee cũng nói rằng các cuộc đàm phán để giải giới chương tŕnh vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên cần phải được khởi động lại trong năm mới.
Tổng thống Nam Triều Tiên nói rằng việc đạt được tiến bộ trong việc thuyết phục B́nh Nhưỡng chấm dứt tham vọng hạt nhân vào năm tới trước khi họ đạt mục tiêu trở thành một quốc gia “thịnh vượng, mạnh mẽ và hùng cường” vào năm 2012, là điều vô cùng quan trọng.
Kể từ khi Bắc Triều Tiên pháo kích vào một ḥn đảo của Nam Triều Tiên hồi tháng trước, các nhận định công khai của ông Lee đă tập trung vào việc ngăn chặn các vụ gây hấn trong tương lai bằng việc chuẩn bị sẵn sàng cho quân đội và kêu gọi đoàn kết quốc gia. Quân đội Nam Triều Tiên đă thực hiện hàng loạt các cuộc tập trận nhắm mục đích chứng tỏ quyết tâm của họ.
Ông Choi Jin-wook là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Hợp tác giữa Nam và Bắc Triều Tiên tại Viện Thống nhất Quốc gia ở Seoul.
Ông Choi nói: “Giờ là lúc chúng ta cần thảo luận về vấn đề hạt nhân tại các cuộc đàm phán 6 bên. V́ vậy tôi nghĩ rằng điều này phụ thuộc vào sự hợp tác chặt chẽ giữa Washington và Seoul cùng với Nhật Bản.”
Trung Quốc đă hối thúc các bên khẩn cấp nối lại các cuộc đàm phán đă bị ngưng trệ sau vụ pháo kích vào đảo Yeonpyeong. Tuy nhiên, Seoul, Tokyo và Washington đă tỏ ra vô cùng dè dặt, và nói rằng B́nh Nhưỡng không nên được tưởng thưởng v́ hành động gây chiến của họ.
Các cuộc hội đàm, trong đó có cả sự tham dự của Nga, nhằm buộc b́nh Nhưỡng chấm dứt chương tŕnh vũ khí hạt nhân của nước họ để đổi lại các lợi ích về kinh tế và ngoại giao.
Các cuộc đàm phán bắt đầu từ năm 2003 và đổ vỡ vào năm 2008. Kể từ đó, Bắc Triều Tiên đă thực hiện các cuộc thử nghiệm hạt nhân và phi đạn. Trước đó trong năm nay, Bắc Triều Tiên đă bị qui trách nhiệm cho một vụ tấn công bằng ngư lôi vào một tàu hải quân Nam Triều Tiên ở Hoàng Hải. B́nh Nhưỡng đă bác bỏ mọi can dự vào vụ việc này.
Căng thẳng đă càng leo thang v́ vụ pháo kích ở đảo Yeonpyeong, đă làm 4 người Nam Triều Tiên thiệt mạng. B́nh Nhưỡng nói rằng họ bị Nam Triều Tiên khiêu khích bằng một cuộc tập trận bắn đạn thật vào vùng biển gần biên giới trên biển mà miền Bắc không công nhận.
Nhiều phân tích gia khu vực nói rằng miền Bắc nghèo khó đang bước vào một giai đoạn vô cùng quan trọng trước năm 2012, là năm kỷ niệm 100 năm ngày sinh lănh tụ đầu tiên của nước này, ông Kim Il Sung. Con trai của ông Sung, ông Kim Jong Il, hiện đang cầm quyền, và cháu trai của ông dự kiến sẽ là nhân vật thứ ba trong gia đ́nh này sẽ lên nắm quyền.
Cháu trai của ông Kim Il Sung, Kim Jong Un, đă được bổ nhiệm làm một vị tướng lĩnh quân đội, mặc dù không hề có kinh nghiệm quân sự. Một số chuyên gia về Bắc Triều Tiên cho rằng có thể Kim Jong Un t́m cách đánh bóng tên tuổi của ḿnh trong nước với các vụ tấn công miền Nam, giống như người cha đă từng làm cách đây 3 thập niên.

TQ Mơ Trận Xích Bích
Trần Khải
 
Trung Quốc hù doạ đánh trận Xích Bích với Mỹ? Nói hù dọa, đây là hù dọa Mỹ, và như thế cũng là hù dọa toàn cầu. Không phải chuyện hù dọa nói bâng quơ ngoài phố, không phải cho dân chúng biểu t́nh trước ṭa đại sứ Mỹ, không phảỉ tuyên truyền qua góp ư trên các làn sóng radio... mà là từ mạng thông tin BBS của tờ Huanqiu Shibao (Hoàn Cầu Thời Báo), cũng thuộc tờ Nhân Dân Nhật Báo của chính phủ TQ.
Bài chúng ta chú ư nơi đây là Hoa Ngữ, do 4 người kư tên chung, và đă dịch ra Anh Ngữ. Đăng ngày 29-11-2010, bản gốc ở http://bbs.huanqiu.com/thread-474407-1-1.html.
Điều để suy nghĩ c̣n là: báo Hoàn Cầu Thời Báo có mục tiêu nhắm vào Hoa Kiều hải ngoại, đặc biệt là những người sinh sống tại Mỹ. Trung Quốc xách động giấc mơ Đạị Hán thế nào? Bản văn này sẽ cho chúng ta thấy một phần tham vọng của họ.
Bài này có nhan đề “Quân Đội TQ Phải Có Tự Tin Để Bắn Ch́m Chiến Hạm Mỹ và Nam Hàn tại biển Hoàng Hải.”
Duyên khởi của bài này được ban chủ biên ghi là, Nam Hàn tập trận đă gây ra chạm súng giữa Nam Hàn và Bắc Hàn, rồi Bắc Hàn pháo kích vào đảo Nam Hàn là Yeonpyeong Island ngày 23-11-2010. Tư Lệnh Quân Lực Mỹ tại Nam Hàn loan báo hôm 24-11-2010 rằng Nam Hàn và Mỹ sẽ tập trận chung từ 28-11-2010 tới ngày 1-12-2010 trên vùng biển phía tây Nam Hàn, nơi Hoàng Hải của TQ. Hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington sẽ tới Hoàng Hảỉ dự tập trận...
Và thế là Trung Quốc phảỉ lớn tiếng hù dọa.
Bài này giải thích rằng Bắc Kinh từ lâu đă phản đối t́nh h́nh Mỹ đưa hàng không mẫu hạm nguyên tử vào tuần tra Hoàng Hải, đặc biệt là với mẫu hạm nguyên tử USS George Washington v́ vùng lănh thổ chiến lược của Trung Quốc, kể cả Bắc Kinh, sẽ nằm trong tầm tấn công của mẫu hạm -- cả tầm không quân tác chiến, tầm đaị bác và tầm phi đạn. Như thế không chỉ là hiểm họa lớn nhất cho an ninh quốc gia Mỹ, mà c̣n bị TQ xem như thực tập để đổ bộ và xóa sổ TQ. Đó là “vấn đề sinh tử của TQ và của nhân dân TQ.”
Bài viết nói rằng, trước đe doạ quân sự do Nam Hàn và Mỹ đưa ra, việc “bàn xem có phải Nam Hàn hay Bắc Hàn kích động chiến tranh từ đảo Yeonpyeong Island đă trở thành vô nghĩa.”
Các tác giả ghi nhận định của các phân tích gia quân sự rằng “t́nh h́nh tàu chiến Mỹ và Nam Hàn vào biển Hoàng Hải tự nó đă là một khiêu khích xâm lăng, y hệt chiến tranh. Đó là những quân đội cọp và sói, mà xâm lăng là bản chất thứ nh́, và năn nỉ sẽ chỉ gợi thèm khai vị cho chiến tranh. Ngay cả thương thuyết ôn ḥa cũng sẽ không cho lối thoát, và số mệnh TQ sẽ như số phận Iraq, nơi đă bị xâm chiếm và tàn phá. Chỉ có một cách cho dân TQ, những người không muốn bị sỉ nhục và áp lực từ Hoa Kỳ: cầm vũ khí lên và sửa soạn phản kích.”
Các tác giả viết cụ thể:
“Không ngờ vực ǵ, nếu vùng chiến lược Trung Quốc bao gồm Bắc Kinh muốn tránh bị tấn công hay bị bom bởi quân đội Mỹ hay Nam Hàn, th́ Trung Quốc phải đánh ch́m toàn bộ tàu chiến của Mỹ và Nam Hàn ở biển Hoàng Hải. Dĩ nhiên, bởi v́ chưa có chiến tranh bùng nổ, TQ không có cớ cụ thể để khởi sự tấn công vào tàu chiến Mỹ và Nam Hàn. Tuy nhiên, TQ phải sẵn sàng và có đủ tự tin là có thể đánh ch́m toàn bộ chiến hạm Mỹ và Nam Hàn trong ṿng 24 giờ đồng hồ. Để được như thế, quân đội TQ không chỉ có đủ trang bị quân khí, mà cũng phaỉ có đủ huấn luyện. Để thực hiện việc huấn luyện này, việc tập trận của Mỹ và Nam Hàn ở biển Hoàng Hải cung cấp một cơ hội tốt: quân đội TQ phải có cuộc tập trận ở Hoàng Hải cùng thời gian mà Mỹ và Nam Hàn tập trận. Mục tiêu sẽ là đánh ch́m toàn bộ tàu chiến Mỹ và Nam Han ở biển Hoàng Hải. Không chụp lấy cơ hội này nghĩa là bỏ lơ nhiệm vụ căn bản cuả quân lực TQ để bảo vệ an ninh quốc gia.” (hết trích)
Các tác giả sau đó phân tích rằng Trung Quốc bây giờ đă có nền kinh tế vững mạnh xây dựng quân đội có đủ sức mạnh vũ khí để đánh ch́m toàn bộ tàu chiến Mỹ và Nam Hàn vào Hoàng Hải. Mà không chỉ Hoàng Hải, tác giả nói là quân đội TQ phải có khả năng đánh ch́m tàù chiến Mỹ ở bất kỳ vùng biển nào.
Đẩy xa thêm một bậc, các tác giả viết rằng “chúng ta cần có đủ huấn luyện. Chúng ta phải chọn bất kỳ tàu chiến Mỹ hay Nam Hàn nào vào biển Hoàng Hải làm mục tiêu huấn luyện. Chúng ta không chỉ thực tập để có đủ tự tin để tấn công và đánh ch́m toàn bộ tài chiến Mỹ và Nam Hàn trong biển Hoàng Hải trong ṿng vá giờ đồng hồ, nhưngc ũng duy tŕ để thực tập khả năng này vào mọi thời điểm.”(hết trích)
Sau đó, bài viết phân tích thêm về sức mạnh kinh tế giưă Mỹ và TQ, và kèm theo nhiều lời xách động tác chiến.
Trong phần góp ư từ những người sử dụng Internet, có một số ư kiến đáng chú ư như sau.
“Đây là cuộc chiến thầm lặng không phải sao? TQ vẫn b́nh thản làm chuyện riêng của ḿnh, Bây giờ TQ đă hợp tác với Nga để khai tử việc thương mại song phương bằng Mỹ Kim. Không phải đó là cú đấm vào Mỹ sao?”
Hay là góp ư từ người khác:
“Ai cũng có lá bài trong tay. Mỹ có nhiều lá bài, nhưng hầu hết đă chơi và ảnh hưởng th́ cũng vậy vậy. TQ không có nhiều lá bài, nhưng có một lá bài tốt vẫn chưa tung ra. Điều đó làm Mỹ khó chịu.”
Hay là một góp ư khác:
“Phải tác chiến bí mật, không để lộ!”
Và một góp ư khác:
“Bằng cách đồng thời tung ra tấn công từ hải lục không quân để làm mạng lưới hỏa lực tứ phía, sẽ không khó đánh ch́m một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Vấn để chỉ là làm sao để trả giá ít nhất.”
Và một ư kiến khác:
“Không sai ǵ hết khi phaỉ dùng chiến tranh để chận đứng chiến tranh. Nhưng sẽ là hoang phí để đánh ch́m hết. Chúng ta sẽ phai chi trả cho giá bom. Như thế sẽ làm chúng ta phá sản! Cách siêu đẳng là mở một cuộc chiến với kế hoạch tốt. Chiến tranh quân sự không nhất thiết giải quyết bằng phương tiện quân sự. Chúng ta phải lấy lợi thế của ḿnh để đánh vào cái yếu thế của địch. Lần trước, tôi đă đề nghị đón khách bằng súng bazookas. Lần này, TQ cũng không thiếu món ăn hảo vị. Các bạn có biết chiến tranh là ǵ? Chiến tranh là giết và đốt. Ai là tiền nhân đă khai hỏa? Chúng ta không cần nhắc tới lửa trận Xích Bích. Trung Quốc chỉ cần cung cấp nhiều tàu dầu để đón khách Mỹ. Khi dầu tràn ra và bắt lửa, lúc đó mới bắn từ xa. Quân Mỹ sẽ có thịt nướng. Nhân dân Bắc Hàn sẽ không đói trong thời gian nướng thịt lính Mỹ. Nhân dân TQ cũng có thể thu góp một số sắt. Xác lính Mỹ cũng có thể dùng để kiếm nhiều tiền. Tại sao lại bỏ lơ kinh doanh nhiều lợi nhuận này? Ha ha.” (hết trích)
Có thể bùng nổ trận Xích Bích hay không? Có lẽ sẽ không, v́ không ai muốn đẩy xa tới bùng nổ cuộc chiến. Nhưng ngôn ngữ kích động trên mạng chính phủ TQ cho thấy một khuôn mặt khác, rất khác: họ luôn luôn sẵn sàng đánh Mỹ. Thậm chí ông nhà giàu Bắc Kinh c̣n mang tâm thức kiểu nhà nghèo Hà Nội: lấy xác lính Mỹ để kiếm tiền.
Nhưng điều để suy nghĩ c̣n là, khi TQ hung hăng như thế với Mỹ, và sẵn sàng tấn công Mỹ, th́ Việt Nam sẽ không là cái ǵ hết dưới mắt TQ. Nghĩa là, VN chỉ là chuyện nhỏ với TQ.
Vấn đề chúng ta thắc mắc: chính phủ VN đă sửa soạn cho các trận Xích Bích Biển Đông ra sao, và Đại Hội Đảng CSVN lần này đưa ông Nguyễn Phú Trọng, một người thân TQ, lên giữ chức Tổng Bí Thư có phải là kế sách lâu dài ǵn giữ ḥa b́nh, hay chỉ sẽ làm mất quân b́nh thế quốc tế ở Biển Đông?
TRẦN KHẢI

 

                                TRANG NHÀ    BẢO TÀNG   I   THƯ VIỆN   I   ĐẶC SAN   I   ÂM NHẠC   I   TRUYỀN THANH   I   PRIMVNATUBE   I   VNABLOG