NGUYỄN KHOA NAM              

                                               TRANG NHÀ    I    BẢO TÀNG    I    THƯ VIỆN    I    ĐẶC SAN    I    ÂM  NHẠC    I    TRUYỀN THANH    I    TRUYỀN H̀NH    I    PALTALK  

         NỘI DUNG
 Nguyễn Khoa Nam

Trang Chính
Lời Nói Đầu
Lời Cảm Tạ
Danh Sách Ân Nhân

CHƯƠNG I                         
Tiểu Sử
CHƯƠNG II                        
Ḍng Họ Nguyễn Khoa
Viên Giác Đại Sư
Tuy Lư Vương
Thôn Vỹ Dạ
Nhớ Về Người Anh
Kỷ Niệm Về NguyễnKNam
Lá Thư Gởi Anh Nam
CHƯƠNG III                       
Nh́n Lại Khóa 3 Thủ Đức Sau Gần Nửa Thế Kỷ.
Người Anh Trong Khóa.
Những Mẩu Chuyện Về Người Bạn Cùng Khóa.
CHƯƠNG IV                      
Sư Đoàn Nhảy Dù      (1953-1969)
CHƯƠNG V                       
Sư  Đoàn 7 Bộ Binh   (1970-1974)
CHƯƠNG VI                       Quân Đoàn IV - Quân Khu 4 (1974-1975).
Những ngày cuối cùng của Quân Đoàn IV và Tướng Nam.
Những cái chết anh hùng.
CHƯƠNG VII                     
Vinh Danh

Phụ Bản                              Bài phỏng vấn cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu ngày 22 tháng 10 năm 2000 tại San Jose.

Tham Khảo                       

CHƯƠNG XI                      H́nh Ảnh Ra Mắt Sách

GỈNG TÂM TƯ TIÊP NÔÍ
Hồi Kư Của Bà Lê Văn Hưng.
 

Ư Kiến Độc Giả




 

 

CHƯƠNG II

             Viên Giác Đại Sư - Chùa Ba La Mật ở Huế

                                                                                                            Nguyễn Khoa Phồn Anh
 
 
 
Du khách đến xứ Huế, đọc thơ của thi sĩ Thanh Tịnh ca tụng vẻ đẹp - đẹp thanh thản như cô gái Huế - của Vỹ Dạ dọc bờ sông Hương, không thể không đến viếng vùng ngoại ô này của đất Thần Kinh. Nhưng trên đường Thuận An sát ven sông, nếu đi quá thôn Vỹ chỉ vài trăm thước, sang Ấp Tây Thượng, qua khỏi một khúc đường cong, du khách thấy ḿnh đến trước cổng từ đường trang nghiêm của tộc Nguyễn Khoa. Nơi đây hàng năm vào mùa Thu, trong tháng Bảy Âm Lịch, con cháu họ Nguyễn Khoa xa gần về tụ họp làm lễ cúng tế gia tiên, gọi là lễ Thu Tế. Bên cạnh nhà thờ họ này, du khách lại thấy một ngôi chùa xinh xắn, luôn luôn được trùng tu kỹ càng. Từ cổng chùa vào đến chính điện, du khách phải qua một con đường dài gần hai trăm thước. Trước cổng chùa và trước cửa chính điện có tấm biển sơn son thếp vàng ghi tên chùa Ba La Mật Tự.

Chùa Ba La không lấy ǵ làm đồ sộ, nhưng có sự tích lư thú mà trải qua một thế kỹ rưỡi và bốn thế hệ, c̣n được các ḥa thượng và thượng tọa liên tiếp trụ tŕ tại chùa cho đến ngày nay. Sư tổ chùa Ba La Mật là ngài Thiên Chơn Viên Giác Đại Sư. Ngài có nhiều đệ tử nổi danh về sau, trong đó có ḥa thượng Thích Viên Thành (thuộc đời thứ nh́) và ḥa thượng Thích Trí Thủ (thuộc đời thứ ba). Ḥa thượng Thích Trí Thủ về sau cáng đáng Phật sự toàn quốc, giao việc cai quản chùa Ba La lại cho đệ tử là thượng tọa Thích Đức Tâm, kế đến là thượng tọa Thích Đức Trí, để sau cùng về ở luôn tại chùa Già Lam, ngoài đô thành Sài G̣n, ở G̣ Vấp thuộc tỉnh Gia Định.

Nhưng sự tích của chùa Ba La kỳ thú trong giai đoạn thành lập hơn là trong thời kỳ cận đại của ngôi chùa.

Dặm Trường
 
Chiều xế tàn. Mặt trời xuống thấp trên rặng núi xa xa đầy mây phủ.

Hai thầy tṛ đă ra khỏi làng Kim Luông, phía Nam kinh thành, đi giữa rừng thưa, chỗ tối chỗ sáng, trông đẹp mờ ảo như bức tranh nhung về chiều có thêm vẻ ảm đạm. Hai người bước chậm răi, tránh từng lùm cây từng hốc đá, mỗi người theo đuổi một luồng tư tưởng riêng. Thầy cảm thấy ḷng thơ thới như vừa trút được một phần gánh nặng ưu tư ở đời, tuy vẫn c̣n gợn thắc mắc, không hiểu ngày mai sẽ ra sao. Tṛ cũng cảm thấy lâng lâng như đang làm một chuyện ǵ thích thú hoặc hữu ích, mặc dầu lo nghĩ đến mẹ già ở tận quê làng, phó thác cho người em gái trông coi.

Thầy đây là một vị quan trong triều đ́nh Huế, làm đến chức Thị Lang trong Bộ Học (ngày nay gọi là Bộ Giáo Dục), người mà vài năm sau cả xứ Thuận Hóa nghe danh và kính cẩn nhắc đến bằng danh hiệu Cụ Ba La hoặc Ngài Ba La. Người ta dùng danh hiệu đó v́ ngôi chùa Cụ lập ra ở ấp Tây Thượng, phía bắc làng Vĩ Dạ, được đặt tên là chùa Ba La Mật.

Tṛ đây là Đào, chú lính lệ, sanh trưởng ở thôn quê cách xa thành phố Huế chừng 60 cây số. Chú là người ít học, có lẽ v́ nhà nghèo, nhưng rất sáng dạ cho nên được cụ Thị Lang Nguyễn Khoa Luận, tức là cụ Ba La sau này, thương mến và xem như là con cháu trong nhà hơn là một người lính hầu cận, và đem theo để trông coi mọi việc trong tư thất từ khi triều đ́nh Huế bổ nhiệm Cụ ra làm quan Bố Chánh tỉnh Thanh Hóa. Vài năm sau, Cụ được triệu về kinh thành làm Thị Lang Bộ Học, và chú cũng theo về.

Cụ trở về kinh đô vào thời vua Hiệp Ḥa vừa mới nối ngôi vua Tự Đức. Mọi việc triều đ́nh đều do hai vị đại thần chuyên quyền thao túng, trong khi nước Pháp bắt đầu đặt nền đô hộ ở Huế, tiếp tục yêu sách và hống hách với chính phủ hoàng triều. Về triều chỉ mới được ba tháng th́ Cụ quyết định treo ấn từ quan, cùng chú lính lệ tín cẩn lặng lẽ ra đi...

Cụ đă chán nản muốn từ quan ngay hồi mới trở về kinh đô, v́ trông thấy hoàn cảnh nước nhà tan tác mà cả triều thần, văn cũng như vơ đều chịu khuất phục trước sự bảo hộ của Pháp, không c̣n cách ǵ để cứu văn. Các bạn đồng liêu khuyên can măi, bảo rằng nếu Cụ từ quan ngay lúc này th́ quân Pháp biết là Cụ có tinh thần chống đối nền đô hộ của chúng và chúng sẽ để ư hăm hại. Và nếu Cụ bỏ kinh thành ra đi trong lúc này, chúng sẽ nghi là Cụ sẽ dấy động phong trào Cần Vương chống Pháp, và tất nhiên chúng sẽ truy lùng để bắt giam Cụ. Họ khuyên Cụ thử chờ đợi một biến chuyển mới trong thời thế để t́m cách tái lập chủ quyền Việt Nam một cách êm đẹp hơn. Cụ cố gắng ẩn nhẫn nhưng tâm tư ngày thêm nặng trĩu và ba tháng sau, Cụ nhất quyết bỏ kinh thành ra đi trên bước đường vô định. Đào, chú lính lệ trung thành, cảm mến ân đức của Cụ trong bao năm qua, năn nĩ xin được tiếp tục theo hầu dầu Cụ có đi đến chân trời góc biển nào.


Bối Cảnh Tang Điền
Cụ Ba La, biệt hiệu là Văn Từ, sanh năm 1834 dưới thời vua Minh Mạng, và ra làm quan trong triều đại vua Tự Đức, một vị vua được coi là hay chữ nhất đời nhà Nguyễn. Năm 1867, v́ quân Pháp thất hứa, chiếm đóng ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Cụ Phan Thanh Giản, Thượng Thư Bộ Lại, đă quyết định tuẫn tiết. Trước khi uống thuốc độc, cụ Phan Thanh Giản không quên dặn con cháu phải lo canh tác mà sinh sống chứ không được ra hợp tác với nền đô hộ của Pháp ở đất Nam Kỳ. Sự việc này có ảnh hưởng sâu đậm trong tâm tư cụ Ba La, lúc ấy mới 33 tuổi, mang trong ḷng bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ và đang làm quan tại Triều. Sau đó, lúc Cụ gần ngũ tuần, vua Hiệp Ḥa vừa mới lên ngôi, th́ Pháp tấn công từ cửa Thuận An để uy hiếp kinh thành, rồi ép buộc triều đ́nh Huế phải kư Ḥa Ước Quư Mùi (1883). Biến chuyển này làm cho Cụ càng thêm bất măn về quốc sự và chán nản thế sự.

Vua Thiệu Trị nối ngôi vua Minh Mạng chỉ được bảy năm. Vài tháng sau, khi chiến thuyền Pháp bắn phá Đà Nẵng, vua Thiệu Trị băng hà. Vua Tự Đức lên ngôi năm 1847, mới 19 tuổi, lúc t́nh trạng giao dịch giữa Việt Nam với người Pháp trở nên gay cấn hơn bao giờ hết.

Phần lớn cuộc đời của Ngài Ba La kéo dài dưới triều đại Tự Đức, một triều đại gặp lắm biến động và nhiễu nhương. Biến động, v́ nhà vua trị v́ vào thời đại các nước Âu Châu đang t́m cách chiếm thuộc địa ở Á Châu để mở mang các đường giao thương và các căn cứ mậu dịch. Riêng nước Pháp th́ lấy cớ các nhà truyền giáo Âu Châu bị cấm chỉ và hành hạ để xâm chiếm lănh thổ và chủ quyền Việt Nam. Triều đại Tự Đức cũng gặp nhiễu nhương v́ giặc giă nổi lên không ngừng khắp nơi. Ở ngoài Bắc, con cháu nhà Lê, và cả những người chẳng phải thân thích nhà Lê, mượn danh nghĩa trung hưng để nổi loạn và khuấy động. Giặc Thái B́nh Thiên Quốc bên Tàu bị truy lùng chạy về mạn thượng du Bắc Việt để ẩn náu và quấy phá. Quan quân nhà Thanh, mượn cớ đánh đuổi giặc cướp Thái B́nh, vượt qua biên giới để cướp bóc các làng mạc Việt Nam. Ngay tại kinh thành, một số quan chức tạo phản, âm mưu lập phế tử Đinh Đạo lên làm vua để mong được nắm quyền triều chính, nhưng bị phát giác và tiêu diệt. Sự tạo phản này có các giáo sĩ ngoại quốc can dự làm vua Tự Đức nổi giận và cấm chỉ đạo Thiên Chúa gắt gao hơn trước. Vua Tự Đức, cũng như tiên đế là vua Minh Mạng, lại c̣n gặp nhiều điều phỉ báng. Các nhà truyền giáo người ngoại quốc thời bấy giờ, nhất là Pháp và Y Pha Nho, bất măn v́ thấy giáo dân bị đàn áp, trong các phúc tŕnh gởi về nước và trong các tài liệu đương thời, mô tả vua Tự Đức như là một bạo quân xảo quyệt. Tuy nhiên, theo như lời ghi chép của Tổng Đốc Thân Trọng Huề hồi đó: vua Tự Đức cung xử hiếu đễ tuyệt đối đối với mẫu hậu là Đức Từ Dụ, cũng đủ chứng tỏ rằng nhà vua không thể là một người hung bạo và xảo quyệt. Ngày nay, sau khi khách quan xét lại các diễn biến, vài sử gia Tây Phương cũng đồng ư là trong thời đó chỉ có một số tương đối rất ít nhà truyền giáo ngoại quốc bị hành quyết, nhưng những hành động cấm đạo này lại được một số người khác lợi dụng khai thác để khuấy động chính trị ở Âu Châu. Hành động của họ nhằm mục đích cố tạo sự ủng hộ tại nội quốc cho ư đồ bành trướng chế độ thuộc địa để phát triển thương măi và can thiệp chính trị tại Á Châu, và nói riêng, cho chế độ thuộc địa của Pháp tại Đông Dương khởi đầu với việc đánh chiếm Hải Pḥng, Đà Nẵng, Hội An và Sài G̣n.

Chẳng qua là triều đ́nh thời ấy thiển cận, dùng chính sách bế quan tỏa cảng ít giao dịch với bên ngoài, nên chỉ nh́n thấy trước mắt sự đe dọa của một giáo lư mới mà họ lầm tưởng là có thể làm lũng đoạn nền móng xă hội Việt Nam, kể cả trật tự và quyền hành của triều đ́nh và quân vương. Ngược lại, cũng trong giai đoạn khó khăn của lịch sử Á Châu lúc đó, vua nước láng giềng Xiêm La đă khéo léo giao hảo đồng đều với các nước Tây Phương, dùng nước này cản chân nước kia, cho nên bảo vệ được nền độc lập của quốc gia măi cho đến thời Đệ Nhị Thế Chiến mới bị quân đội ngoại bang Nhật Bản chiếm đóng. Thật ra, chính vua Tự Đức cũng lượng thế nước quá yếu trước nền văn minh cơ giới Tây Phương, nên có nhiều lần tỏ ư ḥa hoăn và muốn ḥa đàm với Pháp. Nhưng chẳng may, nhiều biến cố không thuận lợi bất ngờ xẩy đến làm cho dự tính của nhà vua không thể thực hiện được. Sau những thất bại về quân sự của Việt Nam trước những trận tấn công của quân đội xâm lăng được trang bị vũ khí tối tân, người Pháp đă áp đặt nền đô hộ trên nước Việt từ cuối triều đại Tự Đức. Cũng dưới triều đại Tự Đức, phần chán nản v́ lớp sĩ phu phù thời, phần thấy quốc gia bất lực trước t́nh thế nước nhà tan nát, cụ Thị Lang Nguyễn Khoa Luận bắt đầu chán thế cuộc nên từ bỏ quan tước và sống đời ẩn dật trước khi hoàn toàn xuất tục.

Đá Vô Sanh
Tṛ đang đi trước, bỗng dừng chân quay lại chắp tay nh́n Thầy và hỏi: -Bẩm Cụ, trời sắp tối rồi! Cụ cho con thổi cơm và giăng vơng để Cụ nằm nghỉ, hay là Cụ muốn đi nhanh hơn để ra khỏi khu rừng này trước khi trời tối? Không cần suy nghĩ, Thầy nói ngay: -Tốt hơn là ta nên tiến bước, v́ khu rừng này nổi tiếng là có cọp dữ. Ra ngoài kia chắc hẳn phải có làng mạc. Ít nhất phải có vài nhà tiều phu đâu đây, v́ ta thấy trong khu rừng này có nhiều cây bị đốn ngă chỉ c̣n gốc. Ngưng một giây, Thầy thong thả nói tiếp: -Sắp đến làng mạc, ta dặn con lại một lần nữa. Ta không c̣n giữ chức tước của triều đ́nh, con không được gọi ta là Cụ như trước nữa. Trên đường tu hành, ta với con là thầy tṛ đồng hành, tốt hơn cả con cứ gọi ta là thầy. Chú lính lệ sợ hăi, khoanh tay thưa: -Bẩm Cụ, con không dám. Làm như thế, con mắc tội hỗn xược. Con ngu dốt, đâu dám làm học tṛ của Cụ. Thầy nghiêm giọng, nửa trách móc, nửa la mắng: -Đào, khi bằng ḷng cho con đi theo, ta đă dặn ḍ con rồi, con không nhớ sao? Ta không muốn những tên do thám của Tây nghi ngờ và ḍ la t́m biết ta là ai. Ta phải ăn mặc theo lối dân giả, và con không được mặc áo bào khi đi đường là v́ vậy. Vả lại, bắt đầu từ ngày mai con sẽ là học tṛ thực thụ của ta v́ ta sẽ dạy cho con học vỡ ḷng. Con thông minh, vừa đi ta sẽ giảng giải và đến lúc nghỉ ngơi ta sẽ viết lên giấy cho con học... Nào ta đi mau ra khỏi nơi này. Hai thầy tṛ bước nhanh hơn trước. Thỉnh thoảng, Đào phải dùng lưỡi mác để chặt những cành cây ch́a ra trước đường đi. Nhưng cả một giờ sau thầy tṛ cũng chẳng thấy bóng dáng làng mạc nào trong khi trời đă nhá nhem tối. Bỗng Đào đưa mũi mác chỉ về phía trước mặt, bên trái và nói: -Bẩm Cụ... Bẩm Thầy, nơi kia có ngọn tháp. Chắc là ngôi chùa hay lăng mộ ǵ đây. Hai người rảo bước về phía đó. Hai mươi phút sau, một khu lăng tẩm khá lớn hiện ra trước mặt. Thầy vỗ trán nói: -Ta nhớ rồi. Đây là lăng tẩm do đức Thế Tổ Gia Long cho xây để chôn cất chiếc sọ của phụ thân mà Ngài t́m thấy được sau khi chiến thắng nhà Tây Sơn. Thôi, trời đă tối, ta tạm qua đêm nay ở đây cũng tốt. Đào bỏ gánh quẩy trên vai xuống và bước ra khe nước gần đó để múc nước về nấu cơm tối. Thầy đi bách bộ trên sàn gạch, suy ngẫm về t́nh thế nước nhà, ḷng cảm thấy bồi hồi và bực dọc... Đào trải một chiếc khăn trên mặt sàn gạch, bày nồi cơm và dĩa thịt kho rồi mời Thầy dùng cơm tối. Thầy bảo: -Đào, lấy chén đũa ra đây, ngồi ăn cùng thầy. Đào không dám vô lễ, hai ba lần xin phép được ăn sau, nhưng Thầy nhất định bảo Đào ngồi xuống ăn chung. Đào lấy phần cơm ra chén rồi khép nép ngồi xuống bên cạnh, phía sau lưng Thầy. Thầy không bằng ḷng, quay lại bảo: -Con với ta bây giờ là bạn đồng hành, và ta coi con như con cháu. Vậy con phải ngồi đối diện, ăn uống cho tự nhiên... à, này con, bây giờ ta thấy không thích ăn thịt cá. Con hăy lấy gói mè rang với muối ra đây cho ta. Đă hiểu ư Thầy, Đào không dám căi. Ăn uống xong, Đào trải chiếc chiếu nhỏ và mền dày trên thềm, dưới mái hiên, để Thầy nằm nghỉ. Đào ra hiên sau, lấy chiếc chiếu c̣n lại để vừa nằm lên vừa đắp. Đi bộ và gần như suốt ngày liền tay chặt các nhánh cây để lấy đường đi, chàng trai trẻ vừa nằm xuống đă thấy buồn ngủ. Bỗng Đào nghe tiếng Thầy gọi. Đào to tiếng dạ và bước quanh thềm lại gần Thầy. Thầy bảo: -Này con, ta cám ơn con đă theo chăm sóc ta. Nhưng con nên nhớ là con c̣n công ơn sinh thành của cha mẹ phải trả. Con c̣n mẹ già, mỗi đêm trước khi đi ngủ con phải khấn xin chư bồ tát phù hộ cho mẹ con. Con cũng phải cầu nguyện cho thân phụ của con được siêu thăng về cơi Phật. Ta chỉ muốn dặn con có thế. Con đi ngủ đi! Trở về chỗ, Đào quỳ xuống khấn nguyện theo lời Thầy dạy. Thầy thong thả bước xuống sân, vừa đi bách bộ vừa loay hoay suy nghĩ đến ư nghĩa của cuộc đời. Thầy tự hỏi: Ta sanh ra để làm ǵ? Con người vật lộn với cuộc sống, đến khi chết nào c̣n giữ được cái ǵ, nếu không phải chỉ là kư ức về những điềm hay, dở ở đời này và hậu quả của những điềm đó? Ta c̣n phải sanh đi sanh lại măi cho đến bao giờ? Những câu hỏi tương tự quay cuồng trong đầu cho đến khi Thầy nhận thấy sương bắt đầu xuống và khí trời trở lạnh trong rừng khuya. Sực nhớ đến tṛ, Thầy bước ra hiên sau. Thấy Đào ngủ say, nằm co quắp dưới chiếc chiếu mỏng, Thầy trở lui lấy chiếc mền dày của ḿnh, đem lại nhẹ nhàng đắp thêm cho tṛ. Thầy mặc thêm chiếc áo lót bông, bước xuống sân, ngồi tựa vào tảng đá lớn, nghĩ đến hoàn cảnh của ḿnh mà không khỏi liên tưởng đến sự tích Thái Tử Tất Đạt Đa nửa đêm trốn khỏi hoàng thành cùng người giữ ngựa Xa Nác... Thầy ngủ thiếp lúc nào không hay... Bỗng Thầy thấy tảng đá sau lưng sáng ngời, sáng với màu vàng êm dịu. Ngạc nhiên, Thầy quay lại nh́n và thấy chỗ Thầy tựa đầu có hai chữ Vô Sanh được chạm nổi bằng vàng ṛng trên đá. Thầy đưa tay sờ hai chữ vàng và bỗng dưng cảm thấy diệu lạc như chưa từng biết... Trong nỗi hân hoan thanh thoát, Thầy tiếp tục ngủ thiếp cho đến khi có tiếng gà gáy vọng lại. Thầy mở mắt, thấy trời đă mờ sáng, và cảm thấy trong ḷng vẫn c̣n niềm hoan lạc mênh mông do giấc mơ kỳ diệu đêm qua. Nhưng Thầy thắc mắc và không t́m được lời giải đáp, v́ không hiểu hai chữ Vô Sanh có ư nghĩa đặc biệt ǵ đối với ḿnh.

Tao Ngộ
Sau khi dùng chén trà nóng buổi sáng, Thầy cùng tṛ t́m đường ra khỏi rừng. Chừng nửa tiếng sau, hai người đến một thôn ấp nho nhỏ, có vẻ nghèo nàn, gồm chừng ba chục nóc gia, nằm hai bên đường ṃn. Thầy bảo Đào vào các nhà hỏi xem có nếp và mè th́ mua thêm một ít. Thầy lững thững đi tiếp đến cuối làng và ngạc nhiên thấy trên đồi có một ngôi nhà tranh nằm trên nền đất cao, trông có vẻ tươm tất hơn mọi nhà khác. Bước lên đồi, đến gần gian nhà, Thầy mới nhận ra đó là một ngôi chùa nhỏ, gồm có chánh điện và hậu liêu trong cùng một căn nhà tranh dài. Trên cửa giữa, lấp dưới mái tranh, một tấm bảng gỗ nhỏ ghi tên chùa Pháp Duyên Tự viết bằng chữ Nho rất rắn rỏi. Một nhà sư già vui vẻ bước ra cửa chào hỏi và mời Thầy vào Chánh điện. Thầy chắp tay đáp lễ, và bước vào trong, xin một nén hương để hành lễ trước bàn thờ Phật. Bàn thờ vỏn vẹn chỉ có một pho tượng Phật Thích Ca bằng gỗ, chạm trổ sơ sài nhưng cũng không đến nỗi thiếu thẩm mỹ. Sư cụ mời Thầy dùng trà bên chiếc bàn gỗ kê ở một góc xa trong chánh điện. Nhà sư gợi chuyện: -Trông ông nho nhă, không phải là người buôn bán. Vậy chớ ông đi vào miệt Trong làm ǵ? Thầy cố lấy vẻ ung dung đáp: -Thưa, sư cụ nói đúng, tôi không phải là thương nhân. Tôi dạy học, nay muốn thăm người bà con, nhân thể xem phong cảnh nước nhà miệt đàng Trong v́ tôi đă có dịp đi ra đàng Ngoài rồi. Tôi có đem theo một chú môn sinh tuy đă lớn nhưng chỉ mới nhập môn. Nó ghé t́m mua một hai thứ, chắc cũng sắp đến đây bây giờ.

Sư cụ hỏi thăm t́nh h́nh trong kinh đô từ khi giặc Pháp đến và Thầy chỉ đối đáp qua loa, v́ Thầy sợ tỏ ra biết nhiều t́nh tiết chính trị th́ nhà sư có thể nghi ngờ. Thầy quay qua hỏi sư cụ về giáo lư nhà Phật: -Bạch sư cụ, tôi được học đ̣i ba chữ sách Khổng, nhưng về kinh tạng nhà Phật tôi rất tối tăm. Tôi mong sư cụ chỉ giáo và khai thị cho tôi. Sư cụ từ tốn đáp: -Tôi xuất gia từ nhỏ. Trước đây nhờ có sư phụ tôi giảng dạy cho ít nhiều nên sơ ngộ được đôi ba chỗ thâm sâu của giáo lư Đại Thừa. Tôi chỉ có một ít sách vở để học hỏi, và suốt ngày chỉ biết tụng kinh niệm Phật và làm vườn, trồng rau trồng hoa. Ông hỏi điều ǵ tôi giải thích được, tôi xin cố gắng. Thấy Đào lăng văng ngoài sân, sư cụ vẫy tay bảo ra ngoài hậu liêu ngồi nghỉ. Đào xin phép được thổi cơm chay để sư cụ và Thầy dùng ngọ.

Sanh Lăo Bệnh Tử
Hai người đàm đạo với nhau rất lấy làm tương đắc. Nhận thấy sư cụ ứng đối rất uyển chuyển lưu loát trong các đề tài giáo lư, Thầy cảm thấy thích thú và nảy ư kiến đem hai chữ Vô Sanh nằm mơ thấy đêm qua để nhờ sư cụ giải thích. Sau khi nghe Thầy kể lại giấc mơ, sư cụ tỏ vẻ vui mừng nói: -Ông là đệ tử của cửa Khổng sân Tŕnh mà có giấc mơ như vậy hẳn là có duyên lớn với Phật pháp nữa đây. Tôi xin chúc mừng ông. Ông cũng hiểu là con người nhập thế ở cơi vô thường này phải chịu sự chi phối của luật Sinh Lăo Bệnh Tử. Từ khi sinh ra, lớn lên, con người không tránh được tuổi già và bệnh tật, rồi hết tuổi thọ th́ phải chết. Thái Tử Tất Đạt Đa xưa kia, từ nhỏ đến lớn sống giam hăm trong cung vàng điện ngọc, không hề có ư niệm ǵ về Sinh Lăo Bệnh Tử. Cho đến khi Ngài ngồi xe ngựa đi dạo ra bốn cửa thành trông thấy cảnh tượng người già, người bị bệnh, người chết và người xuất gia, mới nhận thức tánh cách vô thường của đời người. Sanh tử là chuyện đương nhiên ở đời này, cho nên sách Phật thường nói hữu sanh tất hữu diệt. Nhưng tại sao tôi dám chúc mừng ông? Ông nằm mơ ngộ được Vô Sanh tức là ông sẽ được giải thoát, không c̣n bị tiếp tục lôi cuốn trong ṿng Sinh Tử Luân Hồi nữa. V́ vậy tôi tin rằng nếu ông xuất gia chắc hẳn ông sẽ đắc chánh quả... Nghe đến đây, Thầy sụp xuống lạy sư cụ và nói: -Bạch sư cụ, lời giảng giải của minh sư làm tôi tỉnh ngộ. Bao nhiêu năm nay tôi thắc mắc và do dự. Nay nghe sư cụ giảng dạy, bỗng nhiên tôi thấy chân trời mở rộng và tôi không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Sư cụ là bậc tu hành mà từ sáng đến giờ tôi cứ dấu diếm sư cụ, thật quả đáng xấu hổ. Tôi làm quan trong Triều, giữ chức Thị Lang Bộ Học, v́ chán thế cuộc nên từ quan ra đi để t́m chân lư cho cuộc sống. Tôi sợ quân đô hộ Pháp nghi ngờ và để ư theo dơi nên phải dấu diếm tông tích. Với sư cụ, tôi không dám dấu diếm nữa. Có duyên gặp nhau ở đây, tôi xin minh sư nhận cho tôi làm đệ tử... Sư cụ sững sờ một lúc, rồi vội đứng dậy, đỡ Thầy lên ngồi ghế, sư cụ quỳ xuống, chắp tay trước ngực, hối hả xin lỗi: -Thưa thượng quan, tôi không biết nên từ sáng đến giờ thất lễ với Ngài. Xin Ngài tha lỗi cho tôi và thật t́nh không thể nào tôi dám nhận thượng quan làm đệ tử. Đến lượt Thầy phải nâng sư cụ đứng dậy. Thầy đáp: -Sư cụ là bậc tu hành, đừng làm thế tôi mang tội. Vả lại bây giờ tôi chỉ là thứ dân và rất mong minh sư nhận tôi làm đệ tử để cho tôi được khai thị trên đường tu tập. Sư cụ trầm ngâm nói: -Thật là đại hạnh cho tôi có đại duyên được gặp thượng quan trên đường tầm đạo. Nhưng tôi biết trí năng thô thiển, chỉ học được hai ba câu kinh kệ, đâu phải là minh sư mà dám nhận Ngài. Có lẽ Ngài ham đọc sách thánh hiền nên không mấy quan tâm đến kinh sách nhà Phật, chứ trí tuệ của Ngài tất thông hiểu giáo lư thâm sâu của nhà Phật dễ dàng hơn chúng tôi. Nay tôi có mấy bộ kinh sưu chép ở chùa đây, Ngài có thể lấy xem qua, rồi sau này đi t́m minh sư mà thụ giới. Thật t́nh tôi không đủ sức hiểu biết để d́u dắt Ngài... Ngưng một giây, sư cụ nói tiếp: -Vả lại, trong hoàn cảnh của thượng quan, tôi nghĩ nơi đây c̣n gần kinh thành, tôi sợ Ngài không thể tá túc và tu hành ở đây được. Thầy đắn đo một lúc rồi đáp: -Chỉ mới nghe qua hoàn cảnh của tôi mà sư cụ xét đoán thật là phân minh. Lư do cuối cùng mà sư cụ vừa nói làm tôi suy nghĩ. Tôi mong tầm đạo nên quên mọi chuyện khác. Sư cụ nói đúng, nếu tôi dừng chân ở đây, không những quân Pháp mà gia đ́nh tôi sẽ t́m thấy và buộc tôi trở về thụ chức. Nếu sư cụ không ngại điều ǵ, tôi xin sư cụ cho phép tôi tá túc ở đây đôi ba ngày để đọc sách và lănh giáo với sư cụ, xong tôi lại tiếp tục lên đường. Sau khi tôi ra khỏi nơi đây, xin sư cụ đừng thuật lại cho ai nghe là tôi có ghé qua nơi đây. Sư cụ chắp tay nói: -Mô Phật, tôi sẽ không tự ư thuật cho ai nghe đâu. Tuy vậy Ngài cũng hiểu cho tôi là người tu hành, nếu có ai hỏi tất tôi không thể nói dối. Nhưng tôi xin mời Ngài cứ ở lại xem mấy cuốn kinh sách mà chùa nghèo nàn này có được. Ngài muốn lưu lại bao nhiêu ngày xin tùy tiện, miễn là chí hướng của Ngài không bị cản trở.

Qua Bến Giác
Từ lúc bịn rịn chia tay cùng sư cụ chùa Pháp Duyên, hai thầy tṛ ngày đi đêm nghỉ, không vội vàng mà cũng không chần chừ. Đường sá chỉ là đường ṃn lởm chởm gai góc, lúc băng qua núi, lúc dọc ven biển. Lương thực quảy trên vai chỉ có hạn, cho nên gặp những đoạn đường đi bộ nhiều ngày trong rừng, không c̣n thức ăn và không gặp hàng quán, nhiều lúc thầy tṛ phải t́m những cây trái không độc để ăn qua bữa. Nhưng hễ gặp một cảnh chùa, bất luận lớn nhỏ, Thầy bảo tṛ dừng chân để viếng và chiêm ngưỡng. Mỗi lúc dừng chân và nghỉ ngơi, dưới bóng cây hay dưới mái chùa, Thầy không quên dạy Tṛ học thêm dăm ba chữ mới, và giảng dạy ư nghĩa thâm sâu của các từ ngữ liên hệ. Đào là người học tṛ thông minh, hiểu nhanh chóng và ghi nhớ dễ dàng. Thấy rất hài ḷng v́ trên đường lữ thứ c̣n làm được việc hữu ích.

Một tháng sau, qua một đoạn đường gian nan dài trên một trăm cây số, hai thầy tṛ đến bên bờ sông Hàn. Thầy quyết định dừng chân ở đây, đến viếng cảnh động Thanh Tuyền, rồi đến chùa Non Nước xin thụ giới ở đó.

Thầy ngồi nghỉ chân trên mô đất. Nh́n ḍng sông Hàn chảy cuồn cuộn, Thầy suy nghĩ rất lâu rồi quay lại chậm răi nói với Tṛ: -Này Đào, đến đây con nên trở về nhà. Ta đi thuyền qua sông Hàn, ư nghĩa cũng giống như câu đào b́ ngạn tức là qua bờ bên kia. Đào b́ ngạn là tên dịch nghĩa, và ba la mật là tên dịch âm, của một danh từ tiếng Phạn, như con đă nghe sư cụ Pháp Duyên giảng dạy cách đây mấy tuần. Đối với ta hiện nay, vượt qua bên kia bờ sông Hàn chưa phải là giác ngộ, nhưng có nghĩa là ta dứt khoát xuất gia thoát tục. Dầu ta đau ḷng nhưng đây là lúc con và ta phải chia tay. Người xuất gia phải tự tay làm lấy mọi việc. Ta cám ơn con đă theo ta, lo phục dịch chu đáo cho ta trên quan lộ mấy năm qua và trên đường lữ hành cả tháng trời nay. Nếu ta tạo được chút công đức ǵ trong khi tu hành, một phần công đức đó là của con. Con trở về làm ăn và chăm sóc cho mẹ già và em gái của con. Tiền bạc ta giao con giữ để chi phí dọc đường, c̣n ít nhiều con hăy giữ lấy đem về làm ăn và phụng dưỡng mẹ già. Ta sắp xuất gia, không cần giữ tiền làm ǵ. Quyết định và lời lẽ của Thầy quá đột ngột làm Tṛ sững sốt. Đào phủ phục dưới chân Thầy, tuy không khóc thành tiếng nhưng nước mắt ràn rụa ướt cả chân Thầy. Tṛ than văn: -Con không làm điều ǵ lầm lỗi, sao Thầy nỡ đuổi con đi? Rồi đây, ai sẽ lo cơm nước cho Thầy? Xưa nay, Thầy quyền cao chức trọng, chân yếu tay mềm không quen làm các việc tạp nhạp, ai là người chăm lo mọi việc hàng ngày cho Thầy? Thưa Thầy, Thầy cho con theo, bất cứ Thầy đến đâu, con nguyện theo Thầy măi, và không làm trở ngại công phu tu hành của Thầy. Thầy cũng rơm rớm nước mắt, nhưng cố lấy giọng cương quyết bảo Tṛ: -Khi xuất gia, ta sẽ tu hành như mọi người. Ta sẽ không thể giữ con bên cạnh được. Hơn nữa, con c̣n phải chăm sóc mẹ già và em nhỏ của con, ta cứ giữ con ở lại th́ chẳng hóa ra ta ích kỷ ư. Chữ hiếu là nặng. Con có nhớ không? Đến như Thái Tử Tất Đạt Đa xuất gia đă thành Phật, mà khi biết phụ vương đau, Ngài cũng vội vă trở về kinh thành viếng thăm cha như mọi người con hiếu đễ trên đời. Tṛ không nản ḷng, vẫn cố năn nỉ: -Thưa Thầy, con không phải là bất hiếu. Nhưng con biết mẹ con tuy già nhưng vẫn khỏe mạnh, và em con lo lắng cho người được. Mẹ con và em con vui ḷng biết con được theo Thầy, và nếu Thầy cho phép, con xin cạo đầu xuất gia luôn để theo hầu Thầy và được hưởng ân đức của Thầy. Như thế mẹ con lại c̣n vui ḷng hơn nữa. Thầy nghiêm giọng nói: -Này Đào, khi ta sang bên kia bờ sông là ta đă dứt với đoạn đời đă qua. Ta phải bắt đầu tập thương mọi người và chúng sinh như thể ta thương con và gia đ́nh ta. Con phải về với mẹ già cho tṛn chữ hiếu. Ta và con vẫn có ngày gặp nhau. Tṛ vẫn quỳ, khóc lóc: -Thầy, Thầy... Thầy đă cho con theo đến đây, xin Thầy ít nhất cho con cùng Thầy sang bờ bên kia, để được trông thấy nơi ăn chốn ở của Thầy ra thế nào, lúc ấy con mới an tâm trở về được. Suy nghĩ một lúc, Thầy dịu dàng xoa tóc Đào và nói: -Tội nghiệp cho con. Thôi được, con gọi thuyền để chúng ta cùng qua bờ bên kia. Con phải hứa với ta là lúc về con sẽ đi thẳng về nhà con, không được báo cho gia đ́nh ta hoặc bất cứ ai biết là ta đang ở đâu. Tṛ cam kết: -Xin Thầy an ḷng. Con đă hiểu tâm nguyện tu hành của Thầy và con không dám cản trở v́ con sợ mang nghiệp tội. Thầy đă dặn như vậy th́ Đào này dù thịt nát xương tan cũng không bao giờ hé môi.

Dấu Chân Ẩn Sĩ
Tin một vị thượng quan trong triều treo ấn từ quan lan truyền nhanh chóng ở kinh thành... Vài ba ngày một lần, lúc sáng sớm, tại tư thất của cụ Thị Lang tại ấp Tây Thượng, phu nhân và những người con lúc ấy đang có mặt ở kinh thành họp nhau trước một khay trà nóng. Phu nhân nghe các con tường tŕnh về kết quả t́m kiếm Cụ và lấy làm buồn phiền lo lắng v́ đă gần ba tháng qua mà không có tin tức ǵ xác thực. Hôm nay, đặc biệt có người con cả về hầu thăm mẹ. Phu nhân ngồi ở ghế bành giữa pḥng khách thảo luận cùng mấy người con ngồi ở hai tràng kỷ hai bên. Cụ có đến tám người con trai và một người con gái. Các người con trai lớn đă đỗ đạt trong các kỳ thi Hương. Có ba người con lớn được bổ nhiệm làm quan tại triều, trong đó có hai người về sau làm đến chức Thượng Thư (thời này gọi là Tổng Trưởng). Phu nhân và các người con hiện diện phân vân, v́ cho đến ngày hôm nay vẫn không biết Cụ đi về đâu. Lá thư hoa tiên Cụ để lại chỉ nói là Cụ đi ngao du sơn thủy và không định ngày về. Phu nhân nói: -Các con c̣n nhớ, trước đây Cụ đ̣i từ quan, nhưng các con cũng như các quan đồng liêu trong triều khuyên can măi. Cụ lại có ư định lập một cảnh chùa nhưng mọi người đều ngăn cản v́ chưa phải lúc. Cụ không quen sương gió, một thân một ḿnh đi ở chốn xa lạ trong thời buổi nhiễu nhương này, thật là một chuyện không nên. Các con phải t́m biết xem Cụ ở đâu, để đón Cụ về. Bây giờ, đă biết Cụ nhất quyết như vậy, mẹ và các con phải lo lập chùa để rước Cụ về. Người con cả, đang làm Tri Huyện, hôm ấy về họp mặt, tŕnh với phu nhân: -Thưa mẹ, con có cho người xuống tận nhà chú Đào để xem chú ấy có hay biết ǵ không. Chú ấy nói là có theo hầu Cụ đến một nơi nào đó rồi Cụ cho về. Một người con thứ, có tiếng là nóng nảy, bực tức nói ngay: -Nơi nào là nơi nào, phải hỏi cho ra chứ. Nó theo hầu Cụ bao nhiêu năm nay, sao bây giờ nó dám dấu diếm nhà ta. Ông Huyện vẫy tay nói: -Cả gia đ́nh ḿnh, ai cũng nôn nóng như em. Có điều em nên biết là lúc cho tên Đào trở về, Cụ đă bảo nó hứa là không tiết lộ cho ai biết Cụ đă đến đâu. Bây giờ nó nhất quyết giữ lời hứa với Cụ. Người em vẫn c̣n hậm hực: -Ta cứ đem nó ra cật vấn. Nếu nó không chịu khai, ta cho tra tấn xem nó cứng đầu đến đâu. Năy giờ ngồi yên, đến đây phu nhân khoan thai nói: -Con nói thế không nghe được. Tên Đào là lính hầu cận của Cụ. Nó đă hứa với Cụ th́ ta không có cách ǵ khác là phải trọng chữ tín của nó đối với Cụ. Cật vấn hay tra tấn trong hoàn cảnh của nó là một chuyện thất đức. Mẹ cấm các con không được làm vậy. Dầu ưu tư và nôn nóng đến đâu, chúng ta phải để nó yên và dùng đường lối khác để t́m kiếm Cụ. Mẹ nghĩ bây giờ các con nên phái người đi hỏi thăm kỹ càng tại các làng mạc về hướng Bắc cũng như hướng Nam xem cách đây ba tháng dân chúng có thấy Cụ và và người lính hầu cận đi ngang không?

Theo lời phu nhân dặn, các người con phái thuộc hạ đi hỏi ḍ từng thôn ấp, lần ra phía Quảng Trị và vào phía Quảng Nam. Chỉ năm ngày sau có tin về là sư cụ chùa Pháp Duyên, cách kinh thành một ngày đường về phía Nam, đă miễn cưỡng trả lời là cụ Thị Lang có ghé ở chùa bốn ngày trước khi tiếp tục lên đường. Tin này làm cho cả nhà phấn khởi. Căn cứ vào đó, ông cả Huyện và mấy người em có chức tước trong triều liền viết thư gởi đến quan lại địa phương ở các tỉnh đàng Trong, bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngăi, để nhờ t́m kiếm xem hiện cụ Thị Lang đang ở nơi nào. Vài tuần sau, một quan Tri Phủ trong tỉnh Quảng Nam cho lính hỏa tốc cầm thư về Huế thông báo là đă t́m được cụ Thị Lang đang trú ngụ tại chùa Non Nước, dưới chân Ngũ Hành Sơn ...

Hoàn Hương
Hai người con thứ ba và thứ tư của cụ Thị Lang, được Vua cho miễn công vụ trong một tháng để vào Quảng Nam đón Cụ về. Người con thứ ba, ông Nguyễn Khoa Đạm, biệt hiệu Ngũ Phong, lúc đó giữ chức Tư Nghiệp (cũng giống như Viện Trưởng) trường Quốc Tử Giám, nơi dạy dỗ hoàng thân quốc thích và con của các vị đại thần. Người em là ông Nguyễn Khoa Tân, biệt hiệu B́nh Nam, Tham Tri bộ Hộ (về sau thăng chức Thượng Thơ bộ Hộ, được vua ban chiếu phong tước Đông Các Đại Học Sĩ). V́ thời gian được nghỉ có giới hạn, hai anh em phải cỡi ngựa ngày đi đêm nghỉ, mong trở về cho kịp ngày...

Sau khi đến cảm tạ quan Tri Phủ địa hạt trong tỉnh Quảng Nam đă sốt sắng cho người ḍ la t́m kiếm cụ Thị Lang, hai anh em liền rong ruổi đến chùa Non Nước, mặc dầu viên Tri Phủ hết ḷng mời ở lại tĩnh dưỡng một hai ngày trước khi tiếp tục lên đường đi vào núi Ngũ Hành ...

Hai người con không khỏi động ḷng rơi nước mắt khi gặp thân phụ, v́ đến nơi th́ trông thấy Cụ ăn mặc áo quần vải thô rách vai, đang cầm cây mác lớn để chặt cây khô làm củi nấu ăn. Ngược lại, khi nh́n thấy hai con, Cụ ngạc nhiên nhưng không mảy may xúc động. Vẫn tiếp tục làm lụng, Cụ b́nh thản hỏi hai con đi đường có b́nh an không, và hỏi thăm sức khoẻ mọi người trong nhà. Tuyệt nhiên Cụ không đá động đến việc triều chính. Hai người con mời Cụ vào hậu liêu trong chùa, tự tay đi nấu nước pha trà Ngự Thiện do vua ban, và dâng lên Cụ dùng. Cả hai phủ phục trước bàn Cụ đang ngồi. Người con lớn nói: -Thưa cha, từ ngày cha rời bỏ kinh thành ra đi, mẹ và chúng con rất lo lắng. May mắn làm sao, chúng con t́m biết được cha tá túc ở ngôi chùa này. Cha đă lớn tuổi, sống xa nhà trong lúc này rất là bất tiện. Chúng con xin cha xét nỗi lo lắng buồn phiền của cả gia đ́nh, mà trở về với chúng con. Triều đ́nh chỉ cho nghỉ công vụ một tháng, nhưng chúng con sẽ chỉ rời nơi này khi nào cha bằng ḷng trở về. Cụ nâng cao chén trà thơm, hướng về phía Bắc như là để bái vọng cảm tạ lộc vua ban, rồi quay lại chậm răi nói với hai con: -Các con khó nhọc v́ tâm nguyện tu hành của ta. Thật ra các con khó nhọc không hẳn v́ bản thân ta đâu. Mọi khó nhọc hay hy sinh của các con cho hạnh nghiệp tu hành của bất cứ một ai đều là công đức của chính các con. Phần ta, khi ta băng ngang sông Hàn, ta đă nguyện xuất gia, đến nương nhờ cửa Phật, ta không thể trở về được. Đến lượt người em nói: -Thưa cha, chúng con đă hiểu chí tâm của cha. Khi đă hiểu rồi, chúng con không bao giờ dám làm trái ư. Mẹ có bảo chúng con là lúc cha trở về, chúng con phải lo lập ngay cảnh chùa để cha có chốn tu hành theo ư muốn. Chúng con xin hứa sẽ cùng nhau sớm khởi công xây cất một ngôi chùa ở khu đất trống bên cạnh Từ Đường của tộc Nguyễn Khoa chúng ta. Như vậy chúng con được dễ dàng lui tới viếng thăm hầu hạ cha trong lúc tuổi già. Nếu cha tu hành ở chốn xa xăm như thế này, trong lúc nước nhà hoạn nạn và loạn lạc, mẹ và chúng con làm sao ngày ngày an tâm được. Cụ rót thêm trà ra hai chén, bảo hai con: -Các con ngồi lên đây, ta nói tiếp... Ta không muốn các con lo lắng v́ bổn thân ta. Ta bằng ḷng trở về với các con, nếu thật t́nh các con dự tính xây cất chùa bên cạnh Từ Đường của gia tộc. Ta muốn các con lập chùa, không phải v́ muốn có nơi tu hành gần các con để các con khỏi lo lắng cho ta mà thôi. Trước hết là ta muốn các con tạo công đức to lớn riêng của các con đối với Phật Pháp khi xây dựng được một cảnh chùa... Bây giờ, hai con đă cất công vào đến đây, c̣n ít nhiều th́ giờ, ở chơi đôi ba ngày, nghe ḥa thượng giảng dạy kinh kệ và đi xem núi non hùng vĩ của quê hương ở vùng này. Sau đó, chúng ta sẽ lên đường trở về.

Đạo Hạnh
Trong kinh sách, danh từ tiếng Phạn paramitr được dịch âm là ba la mật đa và dịch nghĩa là đáo bỉ ngạn tức là qua bờ bên kia. Để kỷ niệm ư định xuất gia khi vượt qua bờ bên kia sông Hàn, cụ Thị Lang đặt tên ngôi chùa mà các con Cụ vừa xây cất xong ở ấp Tây Thượng là chùa Ba La Mật. Từ đó, người ta thường gọi cụ Thị Lang Nguyễn Khoa Luận, biệt hiệu Văn Từ, là cụ Ba La. Các hàng đệ tử đời sau của Cụ, cũng như những người muốn tỏ ḷng tôn kính đối với một vị thượng quan mà lại xuất gia tu hành khắc khổ và chân chính, gọi Cụ là ngài Ba La. Lúc Cụ qui y tam bảo, Cụ có pháp danh là Viên Giác. Đạo hiệu chính thức là Thanh Chơn Viên Giác Đại Sư.

Viên Giác Đại Sư thường hay suy ngẫm ư nghĩa thâm sâu của kinh Bát Nhă Ba La Mật và rất tin ở sự nhiệm mầu của câu chú đa la ni trong kinh đó. Một hôm, có đứa bé chăn trâu bị trâu dữ húc đến ḷi ruột. Gặp lúc vị lang y độc nhất trong vùng đi chữa bệnh xa chưa về, Cụ bảo dân làng khiêng đứa bé để lên giường rồi tự ḿnh chữa cho nó. Liên tục tụng câu thần chú trong kinh Bát Nhă Ba La Mật: Yết đế, yết đế, ma ha yết đế, ma ha tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. Cụ cầm bó hương trong tay phải, khoa trên bụng đứa bé, và dùng tay trái nhét ruột trở vào, xong lau sạch máu và lấy vải bó chặt bụng nó lại. Xóm làng rất ngạc nhiên, v́ ngày hôm sau lang y mở băng bụng đứa bé để chữa trị th́ thấy vết thương đă bắt đầu khô và không bị nhiễm độc.

Tuy tu hành ở chùa cạnh nhà, Cụ tự coi là người xuất gia, theo đúng nghĩa của danh từ này, và hầu như không bao giờ bước chân về nhà. Tâm cụ đă thoát tục đến nỗi khi Cụ bà cho lính lệ đến tŕnh báo là hai người con trai sau cùng vừa thi đỗ, Cụ không nói ǵ mà vẫn đứng bẻ các cành tre khô sau vườn dùng để nhúm lửa, sắc mặt không chút thay đổi. Vài năm sau đó, tin hai người con lớn được thăng chức gần tột đỉnh trong triều cũng không làm Cụ xúc động. Có lẽ Cụ đă coi đó là thế tục vô thường.

Mặc dù không quen sống vất vả, Cụ chấp nhận lối tu khổ hạnh như mọi người nhập cửa Thiền. Có hôm trong chùa không c̣n ǵ để ăn, Cụ đào củ rái ở ven hồ sau chùa lên để nấu canh. Cây rái có lá và củ giống hệt như cây khoai môn, nhưng có đặc tánh là gây ngứa ngáy khó chịu khi đụng vào da thịt. Tối hôm đó, ăn cơm xong, chú tiểu nằm vật vă sau bếp, than khóc v́ ngứa xót trong cổ. Mặc dù Cụ cũng dùng canh củ rái như chú tiểu, Cụ điềm nhiên thắp đèn dầu ngồi đọc sách. Cuối cùng, chú tiểu không chịu được đau đớn, chạy vào thư pḥng, hỏi xem Cụ đă uống thuốc ǵ để khỏi ngứa. Cụ từ tốn bảo: Có thuốc ǵ đâu con! Ngứa hay không là do nơi con chứ không phải do nơi củ rái. Nếu tâm con tin là không ngứa th́ thân con sẽ không thấy ngứa...

Lúc Cụ xuất gia, các người con đă làm quan trong triều hoặc dạy học. Nhưng tất cả đều liêm khiết, noi gương Cụ sống trong cảnh thanh bạch. V́ trong nhà không được dư dả như hồi Cụ c̣n làm quan và có thọ lănh bổng lộc của Triều đ́nh, Cụ bà phải ra tay buôn bán tần tảo để nuôi những người con c̣n nhỏ tuổi tiếp tục ăn học.

Trong ấp Tây Thượng, cũng như cả làng Nam Phổ, vườn nhà nào cũng trồng nhiều cau. Ở Huế, có câu ca dao diễn tả làng Nam Phổ trồng nhiều cau đến nỗi con gái c̣n bé chưa biết mặc quần đă biết trèo cây cau: Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau Bởi vậy, ở Tây Thượng, để kiếm thêm lợi tức, ngoài việc buôn bán tơ lụa, Cụ bà ngày ngày bổ cau và phơi khô đem gởi bán ở chợ. Nhưng Cụ bà, vốn cành vàng lá ngọc trong hoàng tộc, làm lụng vất vả không phải chỉ nuôi con ăn học mà thôi mà thỉnh thoảng, c̣n phải trả thêm những khoản tiền phụ trội khi các chị hàng cá đến kêu réo ở cổng, đ̣i Cụ bà trả tiền cá.

Vốn là người tu hành, cụ Ba La không hề giữ tiền của trong người. Mỗi lần phải dùng thuyền qua sông Hương, Cụ không có ǵ để trả tiền đ̣ ngang. Những người lái đ̣ đă biết Cụ, tranh nhau mời Cụ quá giang mà không lấy tiền, gọi là để lấy chút phúc đức. Nhưng trong khi qua sông, thấy cá c̣n tươi đang giăy trong rổ của các người gánh cá đi bán ở chợ, Cụ động ḷng từ bi, lấy từng rổ cá đổ xuống sông. Các người bán cá túm áo Cụ để đ̣i tiền. Người chèo thuyền biết chuyện bảo họ không được vô lễ, phải đến nhà xin Cụ bà trả lại tiền cá. Ở Huế, người ta thường nói đùa: đanh đá nhất có đàn bà con gái làng Chuồn, và phần lớn dân làng này sống về ngư nghiệp. Dầu các bà bán cá làng Chuồn có đanh đá thật như vậy đi nữa, trước sắc thái từ tốn và hiền ḥa của Cụ, các bạn hàng cá qua sông sẵn sàng nghe lời người lái đ̣ và lên bờ t́m đến tư thất của Cụ bà mà lấy tiền. Về sau, gần như là thói quen, mỗi khi gặp cụ Ba La bước lên thuyền, các chị hàng cá tự động đổ cá xuống sông rồi quẩy gánh trở lên bờ, đi đến tư thất Cụ bà để đ̣i tiền, khỏi phải mất công ra chợ bán. Cũng may là cảnh phóng sinh này không xảy ra thường xuyên v́ ít khi cụ Ba La ra khỏi chùa.

Hàng ngày, từ sáng tinh sương, Cụ đă dậy niệm Phật tụng kinh, ngồi thiền, nghiên cứu kinh sách, làm vườn, trồng cây cảnh... Nhưng mỗi tháng một lần, đúng ngày rằm, Cụ vác chổi lên vai và đi bộ từ chùa Ba La lên đến chùa Linh Mụ, cách xa cả hai mươi cây số ngàn. Gọi là để làm công quả, Cụ ra tay quét sạch bảy tầng tháp, từ trên lầu thượng xuống đến sân. Quét xong, Cụ nghỉ mệt một lúc, rồi lại vác chổi đi bộ trở về. Trẻ con trong vùng trông thấy Cụ, cứ gọi là ông già điên và lấy đá gạch ném vào người Cụ, nhưng Cụ không hề la mắng và nói ǵ, cho đến khi cha mẹ chúng trông thấy th́ đánh đ̣n răn dạy chúng, v́ họ biết Cụ là ai.

Mặc dầu Cụ đă hoàn toàn thoát tục, không màng việc đời, nhưng dường như Cụ vẫn không chịu được h́nh ảnh của nền đô hộ Pháp. Con đường từ chùa Ba La lên chùa Linh Mụ phải đi ngang trước mặt ṭa Khâm Sứ Pháp (ở đầu cầu Tràng Tiền ngày nay). Trên đường đi lên chùa Linh Mụ, khi c̣n cách ṭa nhà này cả dặm đường, Cụ đă bước ṿng xuống đường ruộng để tránh xa Ṭa Khâm Sứ, mặc dầu đi ṿng quanh như vậy là Cụ phải đi bộ xa thêm cả sáu cây số.

Thầy Tṛ Muôn Đời
Cụ Ba La sống cuộc đời tu hành khổ hạnh như vậy trong gần hai mươi năm trường. Cụ viên tịch năm 1900, hưởng thọ 66 tuổi. Một thế kỷ rưỡi trôi qua, bao nhiêu biến chuyển thăng trầm xảy ra cho nước nhà và riêng xứ Huế, nhưng chùa Ba La của Viên Giác Đại Sư vẫn thi gan cùng tuế nguyệt như là di tích phô bày cuộc đời tu hành chân chính và khắc khổ của một vị thượng quan trong triều đ́nh Huế, đồng thời cũng là biểu chứng sự đóng góp và hy sinh của vợ con vào hạnh nguyện tu hành của Ngài.

Mặc dù lúc sinh thời Cụ hết sức b́nh dị trên mọi mặt, đam tang Cụ lại rất linh đ́nh, gồm đủ mặt các vị cao tăng xứ Thuận Hóa, quan chức lớn trong triều, đệ tử lớn nhỏ, con cháu đă thành đạt... Trong đám người chen chúc đến phúng điếu và tiễn đưa linh cữu, trong cảnh ngựa xe như nước áo quần như nêm, trong tiếng chuông Đại Hồng và trống Bát Nhă vang rền, không ai để ư đến một người đàn ông trung niên mặc tang phục, sụt sùi, bế con đứng khép nép sau cột nhà. Đó là Đào, người lính hầu cận trước đây của cụ Thị Lang, đă bế con trai đầu ḷng từ làng lên kinh thành để được trông thấy dung nhan Thầy lần cuối và năn nỉ cụ bà xin được phép thọ tang.
 

                                                TRANG NHÀ    I    BẢO TÀNG    I    THƯ VIỆN    I    ĐẶC SAN    I    ÂM  NHẠC    I    TRUYỀN THANH    I    TRUYỀN H̀NH    I    PALTALK