|
| |
|
CHƯƠNG II
Tuy Lư Vương
(Trích trong cuốn Quê Hương Hoài Niệm
của Nguyễn Phúc Bửu Diên và
Phạm Thị
Hoàng Oanh)
Tuy Lư Vương, húy Miên Trinh, tự là Khôn Chương và Quư Trọng, hiệu là Vỹ
Dạ và Tỉnh Phố, sinh năm Kỷ Măo 1820, là con thứ 11 của vua Minh Mạng và
là con đầu ḷng của bà Tiệp Dư Lê Thị Ái.
Ngài được mẹ chăm lo dạy dỗ từ thuở nhỏ, lại thông minh hiếu học nên vua
cha rất yêu mến. Lúc Tuy Lư Vương mới 6 tuổi, bị cảm sốt, vua đến thăm,
mọi người trong cung cho là Tuy Lư Vương có số khác thường, v́ thời ấy
việc vua đi thăm con cái là chuyện hiếm có. Tuy Lư Vương có khiếu về thơ.
Năm 13 tuổi, làm thơ đă giỏi, được người ta gọi là Ông Hoàng Thơ. Là người
con hiếu thảo, hồi c̣n trẻ, mỗi khi mẹ bị bệnh, Ngài được vào Dưỡng Chính
Đường để hầu hạ. Ngài rất cẩn thận, tự ḿnh nếm thuốc trước khi cho mẹ
uống. Năm Đinh Mùi 1847, Ngài xây phủ riêng ở Vỹ Dạ, rước mẹ về phụng
dưỡng. Sáng và chiều, mỗi ngày hai buổi đều đến hầu mẹ và thường t́m cho
được của ngon vật lạ để dâng mẹ. Mỗi buổi chiều, Ngài thường đội khăn đen,
mặc áo rộng, đứng khoanh tay hầu mẹ, nh́n mẹ rải thức ăn cho đàn quạ và
đọc kinh. Quạ là một loài chim rất có hiếu. Khi chim quạ già yếu, chim con
đi kiếm mồi về rồi mớm cho chim cha, chim mẹ ăn.
Năm Tân Hợi 1851, vua Tự Đức thiết lập Tôn Học Đường để dạy cho các công
tử, công tôn và giao cho Tuy Lư Vương trông coi. Bấy giờ Ngài đă ngoài 30
tuổi mới ra làm việc. Năm 1868, mẹ mất, Ngài xin từ chức về cư tang. Ngài
có khắc một bài biểu trên bia, trước mộ mẹ là Lê Thị Tiệp Dư, kể công đức
mẹ, lời lẽ thống thiết, thật chí hiếu. Đến năm 1878, Ngài được phong là
Tuy Lư Quận Vương. Tuy Lư là tên một huyện ở phủ Hàm Thuận, tỉnh B́nh
Thuận. Dưới triều Nguyễn, vua thường phong tước cho các công thần hay thân
thích của nhà vua bằng những địa danh.
Năm Quư Mùi 1883, vua Tự Đức mất, để di chiếu cho ông cùng Thọ Xuân Vương
giúp việc nước, có ǵ không đúng phải nói thẳng. Cùng trong năm này, Sùng
Biện Nội Các Hồng Sâm, con thứ sáu của Tuy Lư Vương muốn loại trừ Tôn Thất
Thuyết và Nguyễn Văn Tường v́ hai ông này chuyên quyền, đă giết vua Dục
Đức, nhưng việc bại lộ, bị buộc uống thuốc độc tự tử, Tuy Lư Vương và các
con bị đày đi an trí tại Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên. Măi đến 1885, Tuy
Lư Vương mới được cùng các con trở về Thuận Hóa. Ngài tiếp tục phục vụ
dưới các triều vua Đồng Khánh, Thành Thái cho đến khi mất vào năm Đinh Dậu
1897, hưởng thọ 79 tuổi.
Sự nghiệp văn chương của Tuy Lư Vương gồm có những bài thơ bằng chữ Nôm và
chữ Hán, đặc biệt là bộ "Vỹ Dạ Hợp Tập" viết bằng chữ Hán được tiến sĩ Vương
Tiên Khiêm, giám đốc trường Quốc Tử Giám ở Bắc Kinh đề tựa. Trong Vỹ Dạ
Thi Tập," Tuy Lư Vương đă sáng tác nhiều bài về t́nh bạn bè, t́nh anh em,
t́nh vợ chồng, t́nh yêu thiên nhiên, ḷng yêu tổ quốc...
Tuy Lư Vương có rất nhiều bạn tài hoa, nổi danh và thường cùng nhau xướng
họa thơ. Trong số bạn này có ông Nguyễn Văn Siêu và Phan Thanh Giản. Thơ
văn của các ông có lời lẽ cao đẹp nên đương thời có câu:
"Văn như Siêu Quát
vô tiền Hán.
Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường."
Có nghĩa là:
Văn như Nguyễn
Văn Siêu, Cao Bá Quát th́ đoạt cả văn đời tiền Hán.
Thơ như thơ Tuy Lư
Vương, Tùng Thiện Vương th́ lấn cả thơ thời thịnh Đường.
Tùng Thiện Vương
Miên Thẩm là con thứ 10 của vua Minh Mạng và bà Thục Tân Nguyễn Thị Bảo,
anh khác mẹ với Tuy Lư Vương. Năm Canh Tuất 1850, nhân dịp Nguyễn Văn Siêu
trở về miền Bắc. Tùng Thiện Vương và Tuy Lư Vương tổ chức tiệc tiễn đưa
người bạn tri kỷ, cũng giống như Bạch Cư Dị, đưa khách ở bến Tầm Dương.
Tuy Lư Vương đăi tiệc tại chiếc thuyền trên con sông Phân Giang ở phía
Đông Nam thôn Vỹ Dạ. Trước cảnh trời nước bao la, người đi kẻ ở ngậm ngùi
cho cuộc chia ly. Tùng Thiện Vương cho mời Đẩu Nương ở An Cựu xuống thuyền
gảy đàn Nam Cầm cho khách nghe. Đẩu Nương là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn,
đă từng nổi danh với tiếng đàn Nam Cầm. Đàn Nam Cầm là tổng hợp đàn Tranh,
đàn Sắt, và đàn Tỳ Bà làm một. Tiếng đàn Nam Cầm rất thanh, hơn cả đàn
Tranh. Chồng nàng mất sớm, để cho nàng phải chịu lẻ loi, sống một cuộc đời
hiu quạnh. Nay v́ quá nể Tùng Thiện Vương nên nàng không dám từ chối, góp
tiếng ḷng ḿnh trong buổi tiễn đưa. Sau khi nghe tiếng đàn Nam Cầm ai oán,
bi đát và lời thuật chuyện năo nùng của Đẩu Nương, Tuy Lư Vương cảm xúc,
tự ví ḿnh như Bạch Cư Dị ngày xưa và lúc về nhà cảm hứng làm bài Nam Cầm
Khúc ngay đêm ấy. Sau đây là đoạn tả tiếng đàn ai oán năo nùng và tâm sự
Đẩu Nương:
Bốn dây to nhỏ cung sa
Thoắt như trời đổ một vài giọt mưa
Lạnh
nghe hạc nói năm xưa
Thảm nghe Thục Đế khóc đưa xuân về
Muỗng sen giọt
nước đầy ve
Thú vàng lửa đốt khói che hơi trầm
Gió mai bờ quạnh ve ngâm
C̣n phơi bông trắng, lau dầm màu sương ...
Dùng dằng nổi tiếng biệt ly
Sầu riêng chẳng rơ việc ǵ ǵ đây?
Lầu tiên đă lỡ kiếp này
Cầu Ô để nợ c̣n
chầy về sau
Trước sau lắm kiếp t́nh sâu
Tơ tầm một mốt buộc sầu không lơi
Lục Triều Tam Sở đổi đời
Nước non, hoa cỏ xót lời tao nhân
Hồng Sâm dịch
|
|