NGUYỄN KHOA NAM              

                                               TRANG NHÀ    I    BẢO TÀNG    I    THƯ VIỆN    I    ĐẶC SAN    I    ÂM  NHẠC    I    TRUYỀN THANH    I    TRUYỀN H̀NH    I    PALTALK  

         NỘI DUNG
 Nguyễn Khoa Nam

Trang Chính
Lời Nói Đầu
Lời Cảm Tạ
Danh Sách Ân Nhân

CHƯƠNG I                         
Tiểu Sử
CHƯƠNG II                        
Ḍng Họ Nguyễn Khoa
Viên Giác Đại Sư
Tuy Lư Vương
Thôn Vỹ Dạ
Nhớ Về Người Anh
Kỷ Niệm Về NguyễnKNam
Lá Thư Gởi Anh Nam
CHƯƠNG III                       
Nh́n Lại Khóa 3 Thủ Đức Sau Gần Nửa Thế Kỷ.
Người Anh Trong Khóa.
Những Mẩu Chuyện Về Người Bạn Cùng Khóa.
CHƯƠNG IV                      
Sư Đoàn Nhảy Dù      (1953-1969)
CHƯƠNG V                       
Sư  Đoàn 7 Bộ Binh   (1970-1974)
CHƯƠNG VI                       Quân Đoàn IV - Quân Khu 4 (1974-1975).
Những ngày cuối cùng của Quân Đoàn IV và Tướng Nam.
Những cái chết anh hùng.
CHƯƠNG VII                     
Vinh Danh

Phụ Bản                              Bài phỏng vấn cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu ngày 22 tháng 10 năm 2000 tại San Jose.

Tham Khảo                       

CHƯƠNG XI                      H́nh Ảnh Ra Mắt Sách

GỈNG TÂM TƯ TIÊP NÔÍ
Hồi Kư Của Bà Lê Văn Hưng.
 

Ư Kiến Độc Giả




 

 

CHƯƠNG II


                                        Thôn Vỹ Dạ
 


Trước đây, Vỹ Dạ là một địa danh nên thơ, một làng nổi tiếng của xứ Huế mộng mơ, một vùng quê hương sản sinh ra nhiều văn nhân, thi sĩ và nghệ sĩ tài hoa, đă từng là đề tài sáng tác cho các thi nhân khắp nước.

Làng Vỹ Dạ thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Từ Đập Đá đi xuống làng Vỹ Dạ, phía bên phải là đồng lúa ph́ nhiêu, bờ tre xanh ngắt. Đến mùa lúa chín, cánh đồng trông như những đợt sóng vàng, lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời mỗi khi có gió nhẹ lướt qua. Phía bên trái là gịng sông Hương dịu dàng, nước trong xanh, bên kia sông là Cồn Hến.

Về nguồn gốc thôn Vỹ Dạ, trong cuốn "Ô Châu Cận Lục" xuất bản năm 1555 của Dương Văn An có ghi: Huyện Kim Trà (sau này chúa Nguyễn Hoàng đổi lại là huyện Hương Trà) gồm có 60 xă, xă thứ 60 là xă Vỹ Dạ. Nguồn gốc địa danh Vỹ Dạ do hai chữ Vy Dă đọc trại ra. Về ư nghĩa, Vy là lau lách. Trong truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:
Gió chiều như gợi cơn sầu
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu
Dă là đồng nội, là cánh đồng. Thơ cổ có câu: "Cuộc thế mịt mù trong dă mă."  Vy dă có nghĩa là cánh đồng lau lách.

Làng Vỹ Dạ có nhiều gia đ́nh tộc Nguyễn Phước tức là gia đ́nh ḍng dơi vua chúa và cũng là họ ngoại của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Trải dài hơn 1 cây số hai bên đường Thuận An từ Đập Đá qua khỏi Chợ Mới th́ tới phường Tây Thượng, đó là nơi cư ngụ của những gia đ́nh tộc Nguyễn Khoa. Mỗi nhà là một biệt thự, có cây cảnh, ḥn non bộ, vườn nuôi thú vật, chim chóc, trông rất đẹp mắt. Vỹ Dạ có đ́nh làng, chợ, rạp hát, trường Thế Dạ, nhà thờ Tuy Lư Vương, thường gọi là Phủ Ba Cửa, chùa Phước Huệ. Phía trên Vỹ Dạ là Đập Đá dùng để ngăn nước mặn từ sông Hương không cho chảy qua sông Như Ư thuộc làng Thọ Lộc làm hại cho ruộng lúa và cũng để cho việc giao thông với quận Phú Vang được dễ dàng. Phía dưới Vỹ Dạ là chợ Gia Lạc và chùa Ba La Mật. Chùa Ba La Mật cảnh trí thật đẹp, thiện nam tín nữ đến lễ chùa rất đông. Chùa này do Nguyễn Khoa Luận, Bố Chánh Thanh Hóa xây dựng. Ông treo ấn từ quan, xuống tóc đi tu, sau trở thành Viên Giác Đại Sư.
Chữ Ba La Mật c̣n in dấu
Bóng mặt trời soi tỏ bấy nay
Ưng B́nh Thúc Giạ

Vỹ Dạ có phong cảnh nên thơ, có ḍng sông xanh, có những thiếu nữ thướt tha duyên dáng, những chàng trai phong nhă, đa t́nh và là đề tài cảm hứng cho các thi nhân.  Bửu Cầm thời c̣n là thư sinh, yêu vẻ đẹp Vỹ Dạ và thường rủ bạn bè về chơi:
Về thôn Vỹ Dạ với anh đi
Anh dạy cho em biết cảm si
Biết hát Nam ai, ḥ Mai đẩy
Biết đàn biết địch biết ngâm thi

Tôn Nữ Kỷ Khương diễn tả tâm trạng chàng trai yêu thương một cô Tôn Nữ thônVỹ Dạ:
Ai về Vỹ Dạ khói sương
Làm mờ nhân ảnh người thương thuở nào

Bửu Tuyển khi về thăm nơi chôn nhau cắt rốn lần cuối cùng, cảm thấy:
Vỹ Dạ quê ḿnh buồn tẻ lạnh
Ngậm ngùi ta nhớ tới đâu đâu

Hà Thúc Hoài Nhân cũng nhắc đến cô Tôn Nữ thôn Vỹ Dạ mà chàng cảm thấy thương thương khi nàng đi lấy chồng:
Vỹ Dạ c̣n đâu đêm sáng trăng
Xưa ḿnh chung lối ghé sang thăm
Vườn thơ Tôn nữ thương thương ấy
Nay đă theo chồng đi biệt tăm

Hàn Mặc Tử, có một thời ăn cơm tháng ở Vỹ Dạ, đă thầm cảm mến một thiếu nữ yêu kiều Vỹ Dạ:
Sao em không về chơi thôn Vỹ
Nh́n nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây
Gịng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nh́n không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết t́nh ai có đậm đà

Không phải chỉ những nhà thơ trong vùng mà cả những thi sĩ ở xa đến thăm Vỹ Dạ cũng sáng tác nhiều bài ca ngợi địa danh nên thơ này. Nữ sĩ Vân Nương, trong thi đàn Quỳnh Dao, về thăm Vỹ Dạ, điêu tàn khói lửa, đă hồi tưởng thời vàng son của Đế Đô:
Trăng nước đầy vơi Vỹ Dạ thôn
Hỏi đâu hài hán khách vương tôn
Áo chầu năm sắc mây vần vũ
Bến Ngự đôi bờ trúc héo hon
Sương tuyết dẫu phai màu túy uyển
Ngọc châu c̣n đọng dấu Kim Môn
Ba La chuông gióng canh trường vắng
Ḥa tiến thông reo khúc Cổ Bồn

Thi sĩ Hồ Trọng Khôi nhớ măi h́nh ảnh thơ mộng của cô gái Vỹ Dạ yêu kiều, cất tiếng ḥ trên chiếc thuyền giữa gịng Hương Giang thầm lặng:
Vỹ Dạ ơi! Ta nhớ những giọng ḥ
Đồng vọng măi trong chiều buồn viễn xứ

Và nhà thơ Lê Khắc Lư diễn tả buổi tiễn đưa đau ḷng, đầy nước mắt, dưới những hàng cau cao vút tại vườn Vỹ Dạ, bên bờ sông Hương, trong đêm trăng buồn da diết:
Trăng vàng Đập Đá chơi vơi
Hàng cau Vỹ Dạ góp lời tiễn đưa
Ra đi một buổi gió mưa
Trường Tiền ai nón bài thơ nghiêng vành
 
 
 

                                                TRANG NHÀ    I    BẢO TÀNG    I    THƯ VIỆN    I    ĐẶC SAN    I    ÂM  NHẠC    I    TRUYỀN THANH    I    TRUYỀN H̀NH    I    PALTALK