|
| |
|
CHƯƠNG II
Thôn Vỹ Dạ
Trước đây, Vỹ Dạ là một địa danh nên thơ, một làng nổi tiếng của xứ Huế
mộng mơ, một vùng quê hương sản sinh ra nhiều văn nhân, thi sĩ và nghệ sĩ
tài hoa, đă từng là đề tài sáng tác cho các thi nhân khắp nước.
Làng Vỹ Dạ thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Từ Đập Đá đi xuống làng
Vỹ Dạ, phía bên phải là đồng lúa ph́ nhiêu, bờ tre xanh ngắt. Đến mùa lúa
chín, cánh đồng trông như những đợt sóng vàng, lấp lánh dưới ánh nắng mặt
trời mỗi khi có gió nhẹ lướt qua. Phía bên trái là gịng sông Hương dịu
dàng, nước trong xanh, bên kia sông là Cồn Hến.
Về nguồn gốc thôn Vỹ Dạ, trong cuốn "Ô Châu Cận Lục" xuất bản năm 1555 của
Dương Văn An có ghi: Huyện Kim Trà (sau này chúa Nguyễn Hoàng đổi lại là
huyện Hương Trà) gồm có 60 xă, xă thứ 60 là xă Vỹ Dạ. Nguồn gốc địa danh
Vỹ Dạ do hai chữ Vy Dă đọc trại ra. Về ư nghĩa, Vy là lau lách. Trong
truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:
Gió chiều như gợi cơn sầu
Vi lô hiu hắt
như màu khơi trêu
Dă là đồng nội, là cánh đồng. Thơ cổ có câu:
"Cuộc thế
mịt mù trong dă mă." Vy dă có nghĩa là cánh đồng lau lách.
Làng Vỹ Dạ có nhiều gia đ́nh tộc Nguyễn Phước tức là gia đ́nh ḍng dơi vua
chúa và cũng là họ ngoại của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Trải dài hơn 1 cây số
hai bên đường Thuận An từ Đập Đá qua khỏi Chợ Mới th́ tới phường Tây
Thượng, đó là nơi cư ngụ của những gia đ́nh tộc Nguyễn Khoa. Mỗi nhà là
một biệt thự, có cây cảnh, ḥn non bộ, vườn nuôi thú vật, chim chóc, trông
rất đẹp mắt. Vỹ Dạ có đ́nh làng, chợ, rạp hát, trường Thế Dạ, nhà thờ Tuy
Lư Vương, thường gọi là Phủ Ba Cửa, chùa Phước Huệ. Phía trên Vỹ Dạ là Đập
Đá dùng để ngăn nước mặn từ sông Hương không cho chảy qua sông Như Ư thuộc
làng Thọ Lộc làm hại cho ruộng lúa và cũng để cho việc giao thông với quận
Phú Vang được dễ dàng. Phía dưới Vỹ Dạ là chợ Gia Lạc và chùa Ba La Mật.
Chùa Ba La Mật cảnh trí thật đẹp, thiện nam tín nữ đến lễ chùa rất đông.
Chùa này do Nguyễn Khoa Luận, Bố Chánh Thanh Hóa xây dựng. Ông treo ấn từ
quan, xuống tóc đi tu, sau trở thành Viên Giác Đại Sư.
Chữ Ba La Mật c̣n
in dấu
Bóng mặt trời soi tỏ bấy nay
Ưng B́nh Thúc Giạ
Vỹ Dạ có phong cảnh nên thơ, có ḍng sông xanh, có những thiếu nữ thướt
tha duyên dáng, những chàng trai phong nhă, đa t́nh và là đề tài cảm hứng
cho các thi nhân. Bửu Cầm thời c̣n là thư sinh, yêu vẻ đẹp Vỹ Dạ và thường
rủ bạn bè về chơi:
Về thôn Vỹ Dạ với anh đi
Anh dạy cho em biết cảm si
Biết hát Nam ai, ḥ Mai đẩy
Biết đàn biết địch biết ngâm thi
Tôn Nữ Kỷ Khương diễn tả tâm trạng chàng trai yêu thương một cô Tôn Nữ
thônVỹ Dạ:
Ai về Vỹ Dạ khói sương
Làm mờ nhân ảnh người thương thuở nào
Bửu Tuyển khi về thăm nơi chôn nhau cắt rốn lần cuối cùng, cảm thấy:
Vỹ Dạ
quê ḿnh buồn tẻ lạnh
Ngậm ngùi ta nhớ tới đâu đâu
Hà Thúc Hoài Nhân cũng nhắc đến cô Tôn Nữ thôn Vỹ Dạ mà chàng cảm thấy
thương thương khi nàng đi lấy chồng:
Vỹ Dạ c̣n đâu đêm sáng trăng
Xưa ḿnh
chung lối ghé sang thăm
Vườn thơ Tôn nữ thương thương ấy
Nay đă theo chồng
đi biệt tăm
Hàn Mặc Tử, có một thời ăn cơm tháng ở Vỹ Dạ, đă thầm cảm mến một thiếu nữ
yêu kiều Vỹ Dạ: Sao em không về chơi thôn Vỹ
Nh́n nắng hàng cau, nắng mới
lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo
lối gió, mây đường mây
Gịng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến
sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
Mơ khách đường xa, khách đường
xa
Áo em trắng quá nh́n không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết t́nh
ai có đậm đà
Không phải chỉ những nhà thơ trong vùng mà cả những thi sĩ ở xa đến thăm
Vỹ Dạ cũng sáng tác nhiều bài ca ngợi địa danh nên thơ này. Nữ sĩ Vân
Nương, trong thi đàn Quỳnh Dao, về thăm Vỹ Dạ, điêu tàn khói lửa, đă hồi
tưởng thời vàng son của Đế Đô:
Trăng nước đầy vơi Vỹ Dạ thôn
Hỏi đâu hài
hán khách vương tôn
Áo chầu năm sắc mây vần vũ
Bến Ngự đôi bờ trúc héo hon
Sương tuyết dẫu phai màu túy uyển
Ngọc châu c̣n đọng dấu Kim Môn
Ba La
chuông gióng canh trường vắng
Ḥa tiến thông reo khúc Cổ Bồn
Thi sĩ Hồ Trọng Khôi nhớ măi h́nh ảnh thơ mộng của cô gái Vỹ Dạ yêu kiều,
cất tiếng ḥ trên chiếc thuyền giữa gịng Hương Giang thầm lặng:
Vỹ Dạ ơi!
Ta nhớ những giọng ḥ
Đồng vọng măi trong chiều buồn viễn xứ
Và nhà thơ Lê Khắc Lư diễn tả buổi tiễn đưa đau ḷng, đầy nước mắt, dưới
những hàng cau cao vút tại vườn Vỹ Dạ, bên bờ sông Hương, trong đêm trăng
buồn da diết:
Trăng vàng Đập Đá chơi vơi
Hàng cau Vỹ Dạ góp lời tiễn đưa
Ra đi một buổi gió mưa
Trường Tiền ai nón bài thơ nghiêng vành
|
|