|
| |
|
CHƯƠNG II
Nhớ
Về Người Anh
Nguyễn Khoa Phước
Cựu Nghị Sĩ Việt Nam
Cộng Ḥa,
là em ruột của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Cuối tháng 3 năm 1998, anh Thời, cựu SVSQ khóa 3 Thủ Đức đến nhà tôi mượn
tấm ảnh của Tướng Nguyễn Khoa Nam và tặng tôi một số Đặc San NKN do các
anh đồng khóa ấn hành từ mấy năm nay. Anh Thời đă yêu cầu tôi viết vài
hàng về anh Nam, người anh ruột của tôi. Tôi xúc động vô cùng! Từ mấy năm
nay, tôi không muốn viết về anh Nam nữa, tôi muốn để cho tâm tư lắng xuống
và nỗi buồn chia cắt ruột thịt vơi dần theo thời gian, nhưng với anh Thời
và cũng như tất cả các anh cựu khóa 3 Thủ Đức, tôi không thể từ chối được
v́ các anh là bạn thân của anh tôi. Đến giờ phút này, các anh đă ngoài 70,
c̣n ngồi lại với nhau để viết cho nhau và cho các chiến hữu QLVNCH những
tâm t́nh và những kinh nghiệm. Đó là điều thật đáng quư. Tôi kính trọng
các anh là ở chỗ đó. Những ǵ tôi viết ở đây về Thiếu Tướng Nguyễn Khoa
Nam là những điều do chính tôi biết hoặc được nghe các anh em sĩ quan hay
bạn bè kể lại trong suốt 12 năm bị giam cầm trong lao tù Cộng Sản. Thời
gian anh ở trong quân ngũ từ 1953 cho đến 1975, tôi rất ít biết v́ anh em
tôi phải xa nhau, mỗi người một lănh vực, mỗi người một hoàn cảnh. Tướng
Nguyễn Khoa Nam, gốc làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên,
sinh tại thành phố Đà Nẵng (Tourane) ngày 23 tháng 9 năm 1927. Gia đ́nh
chúng tôi có nhiều anh em nhưng các anh lớn mất sớm, đến năm 1975, chúng
tôi chỉ c̣n lại một bà chị là Nguyễn Khoa Diệu Khâm, năm nay (2000) đă 82
tuổi đang ở Sài G̣n và tôi là em út. Anh Nam lớn hơn tôi 8 tuổi, thật ra
chỉ đúng 7 năm 7 tháng. Ông thân sinh chúng tôi là cụ Thái Thường Nguyễn
Khoa Túc, trước là Thanh Tra Học Chánh tại Đà Nẵng, về hưu năm 1941 tại
Huế. Mẹ chúng tôi là bà Công Tôn Nữ Mộc Cẩn, thuộc ḍng Tuy Lư Vương.
Anh Nam học Tiểu Học tại trường École des Garcons thành phố Đà Nẵng, từ
1933 đến 1939, sau đó ra Huế ở nội trú và tiếp tục học Lycée Khải Định.
Anh đậu bằng Thành Chung Pháp năm 1943 và học tiếp lên đệ nhị cấp. Đến năm
1946, chiến tranh bùng nổ, cả gia đ́nh chúng tôi phải tản cư, lúc bấy giờ
anh đă 19 tuổi, định theo kháng chiến trong hàng ngũ Thanh Niên Tiền Phong
nhưng mẹ tôi giữ lại. Năm 1947, hồi cư, anh Nam tiếp tục học lớp Đệ Nhị
Toán nhưng sau đó theo học lớp Hành Chánh tại Huế. Năm 1951, anh giữ Chủ
Sự Tài Chánh cho đến năm 1953 th́ được gọi nhập ngũ khóa 3 Thủ Đức. Lúc đó
tôi cũng có giấy gọi nhập ngũ v́ đă đủ 18 tuổi nhưng được miễn v́ c̣n vài
tháng nữa th́ tôi phải thi Tú Tài 2. Tháng 9 năm 1953, tôi vào Sài G̣n
theo học Faculté des Sciences thuộc Université de Saigon th́ gặp anh Nam.
Chủ Nhật nào hai anh em chúng tôi cũng gặp nhau, hàn huyên, đi chơi tới
măi đến chiều Chủ Nhật tôi mới đưa anh lên nhà thương Grall để đáp chuyến
xe của quân trường chở sinh viên sĩ quan về Thủ Đức. Tháng 10 năm 1953,
anh ra trường t́nh nguyện vào binh chủng Nhảy Dù, đi học chuyên nghiệp rồi
lặng lẽ theo đơn vị ra Bắc luôn, tôi không hề hay biết ǵ cả (lúc này cha
mẹ tôi mất rồi nên anh làm theo ư thích của ḿnh). Măi khi nhận được thư
anh từ một KBC ngoài Bắc, tôi mới biết anh ở trong một đơn vị Nhảy Dù đang
hành quân ngoài đó. Tôi không có ư kiến ǵ v́ biết tính anh tôi khi quyết
định rồi th́ không thay đổi được.
Tháng 8 năm 1954, sau hội nghị Genève chia đôi đất nước, anh theo đơn vị
vào Sài G̣n, tôi đến thăm thấy anh mang lon Trung Úy. Thấy anh đă 27 tuổi
rồi màvẫn c̣n sống độc thân, tôi hỏi anh có tính chuyện vợ con chưa. Anh
cười và nói : Ḿnh nhảy dù, lấy ai th́ người đó dễ trở thành quả phụ, tội
lắm! Tôi biết anh không muốn lập gia đ́nh. Về sau này, bà con cô bác làm
mai mối cho anh nhiều nơi xứng đáng, nhưng rồi anh cũng lờ đi. Năm 1955,
anh trở thành Đại Đội Trưởng thuộc Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù và hành quân dẹp
quân phiến loạn B́nh Xuyên tại Sài G̣n. Sau đó anh được thăng Đại Úy và Sư
Đoàn cử anh đi học Kỹ Thuật Dù tại Pau (Pháp) khoảng 8 tháng. Lúc này anh
có mua được một căn phố nhỏ, một pḥng ngủ, một pḥng khách, ở Cư Xá Nhảy
Dù trước Trường Đua Phú Thọ. Anh vẫn ở căn nhà này, không sửa sang ǵ
nhiều cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Thật ra, phần lớn thời gian anh ở
trong đơn vị mà ít khi về đây, vả lại về nhà một ḿnh cũng buồn, có lẽ ở
đơn vị vui hơn.
Năm 1956, anh Nam ở Pháp về được thăng lên Đại Úy, làm Đại Đội Trưởng Kỹ
Thuật Dù trong trại Hoàng Hoa Thám. Anh mang lon Đại Úy măi cho đến cuối
năm 1965 khi anh giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, tôi mới
thấy anh lên Thiếu Tá. Từ lúc nắm Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù (TĐ5ND), anh đi hành
quân khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Khoảng tháng 3 năm 1966, TĐ5ND tham dự
cuộc Hành Quân Liên Kết 66 tại Quảng Ngăi do Sư Đoàn 2 Bộ Binh tổ chức,
anh có ghé về thăm gia đ́nh tôi. Anh rất thương các cháu con tôi và nếu
lúc nào có th́ giờ rảnh là về nhà tôi tắm rửa, ăn cơm và thăm các cháu.
Thời gian này, tôi đang làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Đệ Nhất Cấp Trần
Quốc Tuấn ở Quảng Ngăi. Đây là lúc anh em tôi gặp nhau nhiều nhất từ trước
đến giờ, kể cả thời gian trước ngày anh mất. Thấy anh có vẻ buồn dù ta
đang thắng, tôi hỏi anh, anh nói: Chiến tranh đem lại nhiều chết chóc và
đau thương, hàng trăm xác Việt Cộng 15,16 tuổi phơi thây trên núi Tṛn,
bên đơn vị ḿnh cũng có mười mấy binh sĩ hy sinh, tội quá! Kỳ này về phải
lo cho các gia đ́nh tử sĩ. Đầu năm 1970, anh được đặc cách lên Chuẩn Tướng
và được đề cử giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu Chiến
Thuật Tiền Giang. Tháng 11 năm 1974, thăng lên Thiếu Tướng và được bổ
nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV và Vùng 4 Chiến Thuật cho đến ngày 30 tháng
4 năm 1975.
Chiều ngày 1 tháng 5 năm 1975, Trung Úy Danh, Sĩ Quan Tùy Viên của anh Nam
lên Sài G̣n báo tin cho chị tôi là bà Diệu Khâm biết là Thiếu Tướng Nguyễn
Khoa Nam đă tuẫn tiết. Trung Úy Danh nói thêm Thiếu Tướng tự sát vào
khoảng 6-7 giờ rạng ngày 1 tháng 5 năm 1975. Ông dùng tay mặt cầm khẩu
Colt 45 bắn vào màng tang bên phải, máu thấm đầy quân phục, đầu ngă sang
bên trái. Trên bàn giấy, chiếc cặp của Thiếu Tướng có một số giấy tờ và
khoảng 40,000 đồng tiền Việt Nam. Bác Sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng và một số
chiến hữu lo tẩm liệm và đưa linh cữu ra an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội
Cần Thơ ngày 2 tháng 5 năm1975. Tháng 3 năm 1984, vợ tôi, em dâu của anh
Nam là bà Nguyễn Khoa Phước cùng cô cháu gái là Nguyễn Mạnh Diệu Thúy từ
Sài G̣n về Cần Thơ xin hốt cốt, lúc này tôi đang ở tù tại trại giam Nam
Hà-Ba Sao. Khi hài cốt được khai quật, nhà tôi thấy c̣n nguyên bộ xương,
đặc biệt hàm răng c̣n rất tốt chưa trám và hư hỏng cái nào, một thẻ bài
quân nhân có tên Nguyễn Khoa Nam, một cuốn kinh Phật đựng trong bao nylon
và một khẩu Browning. Bộ xương đă được thiêu liền khi đó. Khi thiêu xong,
tro hài cốt được gia đ́nh đựng trong b́nh xứ, đem về Sài G̣n ngay hôm đó.
Vài ngày sau, lễ phục tang được tổ chức tại chùa Già Lam với sự tham dự
đông đủ thân nhân và bà con nội, ngoại. Hiện nay tro hài cốt của anh được
đặt thờ tại chùa Già Lam, quận G̣ Vấp, tỉnh Gia Định. Nói về cá tính của
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là một chuyện khó đối với tôi v́ anh em tôi
tuổi xa cách nhau. Trong gia đ́nh, anh là một người ít nói, thích sống
riêng một ḿnh, nhiều lúc có tâm sự ǵ cũng không nói với ai nên có vẻ khó
hiểu. Thời kỳ anh làm công chức cũng như khi nắm quyền chỉ huy trong quân
đội, tôi thấy anh sốt sắng với mọi người nhưng hơi lạnh nhạt với bà con
thân thuộc, nhiều bà con đă lên tiếng chê trách khi cần nhờ vả anh việc ǵ
mà không được toại nguyện v́ anh không tiếp.
Tôi nghĩ anh rất t́nh cảm, nhưng t́nh cảm của anh được biểu lộ một cách
kín đáo và san sẻ đồng đều cho mọi người nhất là những người nghèo khổ như
gia đ́nh binh sĩ. Là một quân nhân thuần túy, anh không muốn chính trị,
tôn giáo xen vào quân đội. Hồi c̣n làm Tư Lệnh SĐ7BB, có lần, một vị
thượng tọa đến nhờ cậy một việc ǵ đó mà anh cũng không tiếp. Các vị linh
mục bên Công Giáo hay các vị thượng tọa bên Phật Giáo, anh xử sự đúng lễ
nhưng cũng không có ǵ đặc biệt hơn những người khác.
Anh có thể trở thành một nghệ sĩ tên tuổi nếu anh chọn ngành này. Hồi nhỏ,
lúc c̣n học ở bậc Trung Học, anh đă là một họa sĩ. Năm 1945, tranh vẽ của
anh đă được trưng bày ở pḥng triển lăm. Trong các năm tản cư 1946 -1947,
suốt ngày anh say mê bên khung vải, tranh vẽ đủ loại: sơn dầu, sơn bột,
ch́. Anh Nam cũng là một người có khiếu về âm nhạc và có tŕnh độ kư âm
khá. Anh từ nhỏ luôn luôn thích sống cô đơn tự lập, tư tưởng anh thấm
nhuần triết lư Khổng Giáo và Phật Giáo.
|
|